Từ phong trào “Bình dân học vụ”…
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công đã đập tan xích xiềng nô lệ của chủ nghĩa thực dân và đưa đến sự ra đời của Nhà nước Việt Nam dân chủ Cộng hoà. Đó là một mốc son chói lọi trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Nhưng chính quyền cách mạng non trẻ vừa mới ra đời đã phải đương đầu với muôn vàn khó khăn, thử thách, gồm cả “giặc đói”, “giặc dốt” và “giặc ngoại xâm”. Diệt “giặc dốt” cũng là một trong những nhiệm vụ cấp bách góp phần giữ vững thành quả của cách mạng.
Ngày 03/9/1945, trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã chỉ ra 6 vấn đề cấp bách trong đó có “nạn dốt”. Hồ Chủ tịch nhấn mạnh: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu. Vì vậy tôi đề nghị, mở một chiến dịch để chống nạn mù chữ”. Triển khai chỉ thị đó, ngày 08/9/1945, Chính phủ đã ban hành 03 Sắc lệnh quan trọng: Sắc lệnh số 17/SL thành lập Nha Bình dân học vụ, cơ quan chuyên trách về việc chống nạn mù chữ; Sắc lệnh số 19/SL quy định việc thiết lập các lớp học bình dân và Sắc lệnh số 20/SL quy định bắt buộc học chữ quốc ngữ không mất tiền.

Ngày 04/10/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh có bài viết “Chống nạn thất học”, trong đó Người nhấn mạnh trách nhiệm của một công dân nước Việt Nam phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ. Biện pháp dạy học được Người chỉ ra rất cụ thể: “Vợ chưa biết thì chồng bảo, em chưa biết thì anh bảo, cha mẹ không biết thì con bảo, người ăn người làm không biết thì chủ bảo, các người giàu có thì mở lớp học ở tư gia dạy cho người không biết chữ ở hàng xóm láng giềng, các chủ ấp, chủ đồn điền chủ hầm mỏ, nhà máy thì mở lớp cho những tá điền, những người làm của mình”.
Phong trào “Bình dân học vụ” lan tỏa nhanh chóng khắp cả nước. Không phân biệt tuổi tác, tầng lớp hay trình độ, người dân nô nức tham gia học chữ quốc ngữ. Những lớp học ban đêm xuất hiện từ khắp các làng quê đến thành thị, từ nhà dân đến sân đình, bãi chợ... Những “giáo viên” không lương tự nguyện đi dạy chữ ở các vùng khó khăn bao gồm cả trí thức, bộ đội, công chức, học sinh... Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá cao sự cống hiến, hy sinh của đội ngũ “giáo viên” làm nhiệm vụ xoá mù chữ. Người ghi nhận và động viên: “Anh chị em làm việc mà không có lương bổng, thành công mà không có tiếng tăm. Anh chị em là những người “vô danh anh hùng”. Tuy là vô danh nhưng rất hữu ích. Một phần tương lai của dân tộc nước nhà nằm trong sự cố gắng của anh chị em”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm, sâu sát các hoạt động bình dân học vụ, nhất là ở những nơi có hoàn cảnh khó khăn. Người đặc biệt chú ý những đối tượng yếu thế trong xã hội, nhất là các cụ già, phụ nữ và trẻ em. Để mở rộng phong trào “Bình dân học vụ” tới vùng sâu, vùng xa và vùng núi, ngày 20/6/1946, Chính phủ ra Sắc lệnh số 110/SL mở lớp huấn luyện cán bộ bình dân học vụ cho các đại biểu dân tộc thiểu số.
Từ tháng 11/1945, khóa học bình dân học vụ đầu tiên được tổ chức, các khóa học tiếp theo được tiến hành đến ngày toàn quốc kháng chiến (19/12/1946). Những khẩu hiệu: “Đi học là yêu nước”, “Tiền tuyến diệt xâm lăng, hậu phương trừ giặc dốt”, “Thêm một người đi học là thêm một viên gạch xây nền độc lập của nước nhà”... đã nhanh chóng thấm sâu vào nhận thức và hành động của mọi người dân, khơi dậy ý chí tự cường và lòng tự tôn dân tộc. Với sự quyết liệt trong chỉ đạo và tổ chức thực hiện, trong khoảng thời gian hơn 1 năm, đã mở được 75.805 lớp học; có 97.664 người tham gia dạy học; 2.5 triệu người đã biết đọc, biết viết. Đến năm 1952, cả nước có khoảng 14 triệu người thoát khỏi nạn mù chữ.
…đến phong trào “bình dân học vụ số”

Nhìn lại phong trào “Bình dân học vụ”, chúng ta nhận thấy phong trào này thực hiện thành công bởi có sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp, quyết liệt cùng với sự động viên, khích lệ kịp thời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các cơ quan Chính phủ và sự cố gắng, nỗ lực của bản thân mỗi người dân. Bài học kinh nghiệm này đến nay còn nguyên giá trị và có thể áp dụng trong phong trào “Bình dân học vụ số”.
Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang là yếu tố quyết định phát triển của các quốc gia; là điều kiện tiên quyết để nước ta phát triển giàu mạnh, hùng cường trong kỷ nguyên mới. Tuy nhiên, phần lớn người dân chưa được trang bị đầy đủ tri thức và kỹ năng về công nghệ số. Vì vậy, “xóa mù” về chuyển đổi số trở thành nhiệm vụ đặc biệt quan trọng và cấp bách để Việt Nam không bị tụt hậu và có thể vươn lên mạnh mẽ trên trường quốc tế.
Ngày 22/12/2024, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, trong đó nhấn mạnh: “Tăng cường sự lãnh đạo toàn diện của Đảng, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, sự tham gia tích cực của doanh nhân, doanh nghiệp và Nhân dân đối với phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Xác định đây là cuộc cách mạng sâu sắc, toàn diện trên tất cả các lĩnh vực; được triển khai quyết liệt, kiên trì, đồng bộ, nhất quán, lâu dài với những giải pháp đột phá, mang tính cách mạng”. Trong bối cảnh thế giới bước vào kỷ nguyên số thì “Bình dân học vụ số” trở thành nhiệm vụ quan trọng trong tiến trình chuyển đổi số quốc gia. Việc phổ cập “tri thức số” cho toàn dân chính là nền móng để xây dựng một xã hội tri thức, hình thành thế hệ công dân số chủ động, sáng tạo, thích ứng linh hoạt với thời đại.
Trong buổi gặp mặt các nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục nhân ngày Nhà giáo Việt Nam ngày 18/11/2024, Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định: “Thành tựu xóa nạn mù chữ là nền tảng đầu tiên, căn bản nhất để cách mạng Việt Nam vươn lên chiếm lĩnh những đỉnh cao mới, giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và đạt được thành tựu vĩ đại sau 40 năm đổi mới đất nước”. Cũng tại buổi gặp này, theo Tổng Bí thư, một trong những công việc cần làm ngay, đó là phát động thực hiện phong trào “Bình dân học vụ số”.
Vừa qua, ngày 26/3/2025, trong bài phát biểu tại Lễ phát động phong trào và ra mắt nền tảng “Bình dân học vụ số”, Thủ tướng Phạm Minh Chính khẳng định: “Bình dân học vụ số” là một nhiệm vụ quan trọng nhằm cụ thể hóa đường lối, chủ trương của Đảng tại Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị; hưởng ứng và thực hiện chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm về học tập suốt đời và triển khai phong trào “Bình dân học vụ số”. Đất nước đang đứng trước cơ hội lịch sử để bước vào kỷ nguyên mới, phát triển mạnh mẽ với động lực chính đến từ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Cả nước phải thực hiện nhiệm vụ đặc biệt quan trọng và cấp bách là phổ cập tri thức, công nghệ về chuyển đổi số, kỹ năng số cho toàn dân.
Trách nhiệm của cá nhân trong phong trào “Bình dân học vụ số”
Kế hoạch thực hiện “Bình dân học vụ số” đang được nhanh chóng triển khai rộng khắp từ Trung ương đến tất cả các địa phương. Thời gian qua, công tác chuyển đổi số quốc gia đã đạt nhiều kết quả tích cực. Phong trào “Bình dân học vụ số” được triển khai với nhiều nền tảng, như: nền tảng học trực tuyến mở đại trà One Touch, nền tảng MobiEdu đào tạo cho hơn 1,2 triệu lượt cán bộ, công chức, viên chức và người lao động, đồng thời phổ cập kỹ năng số miễn phí cho hơn 40 triệu lượt người; nền tảng Bình dân học vụ số đã đào tạo hơn 200.000 lượt cán bộ, công chức và lực lượng vũ trang…
Trong bối cảnh hiện nay, để hoàn thành mục tiêu “Bình dân học vụ số”, mỗi công dân cần xác định trách nhiệm của mình thông qua việc tham gia học tập, nâng cao kiến thức và kỹ năng số, đồng thời lan tỏa tri thức này đến cộng đồng, góp phần xây dựng xã hội số. Mỗi người cần chủ động học tập thông qua việc tích cực tham gia các khóa đào tạo, bồi dưỡng hoặc các buổi chia sẻ kiến thức về chuyển đổi số, kỹ năng số và các ứng dụng công nghệ thông tin ở những cấp độ khác nhau, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh từng người. Không chỉ dừng lại ở đó, hãy lan tỏa tri thức bằng cách chủ động chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm và kỹ năng số đã học được với gia đình, bạn bè, đồng nghiệp và cộng đồng, đặc biệt là những người có ít cơ hội tiếp cận công nghệ (người cao tuổi, người có hoàn cảnh khó khăn…). Tham gia xây dựng cộng đồng số bằng cách tích cực tham gia vào các hoạt động, dự án hay diễn đàn trực tuyến, đóng góp ý kiến, chia sẻ kinh nghiệm và hỗ trợ lẫn nhau trong việc ứng dụng công nghệ số.
Ngoài ra, mỗi công dân có thể thực hiện đồng thời các hoạt động, như: Sử dụng các nền tảng số, ứng dụng và dịch vụ trực tuyến một cách thông minh, an toàn và có trách nhiệm; Góp phần vào cuộc đấu tranh phòng, chống tin giả, tin sai sự thật bằng cách nâng cao khả năng nhận biết, phân biệt thông tin đúng, sai trên không gian mạng và tích cực phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; thể hiện tinh thần tiên phong, tự giác trong việc ứng dụng công nghệ số vào công việc, học tập và cuộc sống hàng ngày, từ đó tạo động lực tích cực cho những người xung quanh... Bằng việc thực hiện tốt các trách nhiệm trên, mỗi cá nhân sẽ góp phần quan trọng vào sự thành công của phong trào “Bình dân học vụ số”, đưa Việt Nam tiến nhanh hơn trên con đường chuyển đổi số, xây dựng một xã hội học tập, xã hội số văn minh, hiện đại.
Đức Kiên