“Chủ động thực thi; phát huy động lực; tăng trưởng bứt phá”
Thời gian: 23/10/2025 08:47

Hỗ trợ doanh nghiệp tham gia phát triển các ứng dụng, dịch vụ số mới theo hình thức hợp tác công tư trên địa bàn thành phố giai đoạn 2026-2030

Thực hiện Kế hoạch số 238/KH-UBND ngày 13-9-2025 của Ủy ban nhân dân thành phố thực hiện Kế hoạch hành động số 12-KH/TU ngày 26-8-2025 của Ban Thường vụ Thành ủy về thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22-12-2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; ngày 14-10-2025, Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng ban hành Kế hoạch số 273/KH-UBND hỗ trợ doanh nghiệp tham gia phát triển các ứng dụng, dịch vụ số mới theo hình thức hợp tác công tư trên địa bàn thành phố giai đoạn 2026 - 2030.

Kế hoạch nhằm triển khai đầy đủ cơ chế, chính sách hợp tác công tư để hỗ trợ doanh nghiệp tham gia đầu tư, phát triển ứng dụng, dịch vụ số mới. Huy động tối đa nguồn lực xã hội kết hợp với vốn nhà nước (có thể tới 70% tổng mức đầu tư) để phát triển hạ tầng số, nền tảng số dùng chung, dữ liệu số, dịch vụ số và đào tạo nhân lực số. Xây dựng hệ sinh thái ứng dụng, dịch vụ số, thúc đẩy phát triển kinh tế số, xã hội số, chính quyền số của thành phố.

 * Nguyên tắc hỗ trợ

Việc hỗ trợ doanh nghiệp tham gia phát triển ứng dụng, dịch vụ số theo hình thức hợp tác công tư được thực hiện trên các nguyên tắc sau:

- Bảo đảm phù hợp với mục tiêu, định hướng phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của quốc gia và thành phố; gắn với nhu cầu thực tiễn của ngành, lĩnh vực, địa phương.

- Bảo đảm nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, minh bạch, phân định rõ trách nhiệm, lợi ích và rủi ro giữa Nhà nước và doanh nghiệp tham gia hợp tác công tư.

- Khai thác tối đa nguồn lực của doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân; Nhà nước chỉ hỗ trợ, ưu đãi có trọng tâm, trọng điểm, ưu tiên dự án có tính lan tỏa, tác động lớn đến chuyển đổi số và phát triển kinh tế số của thành phố.

- Ưu tiên các dự án tạo ra sản phẩm, dịch vụ số mới mang tính nền tảng, dùng chung, phục vụ lợi ích công cộng, đồng thời khuyến khích thương mại hóa kết quả nghiên cứu và đổi mới sáng tạo.

- Thường xuyên theo dõi, giám sát, đánh giá hiệu quả việc hỗ trợ, kịp thời điều chỉnh, bổ sung cơ chế để bảo đảm tính khả thi và bền vững.

* Cơ chế chính sách hỗ trợ

Nhóm cơ chế, chính sách hỗ trợ về tài chính, thuế và đất đai: Doanh nghiệp hợp tác công tư được hạch toán 200% chi phí nghiên cứu - phát triển vào chi phí được trừ khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp. Miễn, giảm tiền thuê đất, tiền sử dụng đất cho các dự án hợp tác công tư phát triển ứng dụng, dịch vụ số. Vốn nhà nước tham gia trong dự án hợp tác công tư có thể tới 70% tổng mức đầu tư để hỗ trợ xây dựng công trình và chi trả kinh phí bồi thường, giải phóng mặt bằng, hỗ trợ, tái định cư; hỗ trợ xây dựng công trình tạm. Trong 03 năm đầu sau thời điểm vận hành, kinh doanh, được áp dụng mức chia sẻ 100% phần chênh lệch giảm giữa doanh thu thực tế và doanh thu trong phương án tài chính khi doanh thu thực tế thấp hơn mức doanh thu trong phương án tài chính…

Nhóm cơ chế, chính sách hỗ trợ về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo: Nhà nước có thể đặt hàng, tài trợ một phần hoặc toàn bộ kinh phí cho các nhiệm vụ nghiên cứu - phát triển gắn với dự án hợp tác công tư, đặc biệt trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, an toàn thông tin, công nghệ logistics và công nghệ phục vụ đô thị thông minh. Khuyến khích thương mại hóa kết quả nghiên cứu, hỗ trợ doanh nghiệp, viện nghiên cứu đưa sản phẩm nghiên cứu ra thị trường…

Nhóm cơ chế, chính sách hỗ trợ về dữ liệu và hạ tầng số: Doanh nghiệp thực hiện dự án hợp tác công tư được quyền tiếp cận, khai thác và sử dụng cơ sở dữ liệu do cơ quan nhà nước quản lý (bao gồm dữ liệu về dân cư, đất đai, quy hoạch, giao thông, môi trường, y tế, giáo dục và các lĩnh vực khác). Doanh nghiệp khi tiếp cận, khai thác dữ liệu có trách nhiệm tuân thủ các quy định về bảo mật, an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu cá nhân. Cơ quan nhà nước cung cấp dữ liệu chịu trách nhiệm xây dựng quy trình cấp quyền truy cập, phân quyền sử dụng, đồng thời giám sát việc sử dụng để ngăn ngừa rủi ro rò rỉ, lạm dụng dữ liệu. Thành phố thiết lập môi trường thử nghiệm có kiểm soát cho phép doanh nghiệp thử nghiệm các ứng dụng, dịch vụ số mới…

Nhóm hỗ trợ về hợp đồng, pháp lý và chia sẻ lợi ích: Trong hợp đồng hợp tác công tư, quyền sở hữu đối với tài sản hình thành từ dự án phải được xác định rõ ràng. Doanh nghiệp hợp tác công tư được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với các sản phẩm nghiên cứu, giải pháp công nghệ do mình đầu tư phát triển. Doanh nghiệp tham gia hợp tác công tư được công nhận quyền kinh doanh, quyền khai thác dịch vụ số trong phạm vi, thời hạn hợp đồng đã ký. Nhà nước có thể đặt hàng hoặc chỉ định thầu đối với sản phẩm, dịch vụ số là kết quả của dự án hợp tác công tư để phục vụ các nhiệm vụ công cộng...

Nhóm cơ chế, chính sách hỗ trợ về nguồn lực xã hội, giám sát và minh bạch: Huy động đa dạng các nguồn vốn. Các trường đại học, viện nghiên cứu, bệnh viện và đơn vị sự nghiệp công lập khác được phép để lại một phần hoặc toàn bộ nguồn thu hợp pháp từ hoạt động nghiên cứu, cung cấp dịch vụ, hợp tác quốc tế... để tái đầu tư cho hoạt động đổi mới sáng tạo, phát triển hạ tầng số, đào tạo nhân lực công nghệ…

Nhóm cơ chế, chính sách hỗ trợ về quy trình, thủ tục thực hiện dự án hợp tác công tư: Rút ngắn thời gian thẩm định, phê duyệt dự án. Thiết lập cơ chế “một cửa” trong tiếp nhận, xử lý hồ sơ dự án hợp tác công tư. Doanh nghiệp chỉ cần nộp hồ sơ tại một đầu mối, các sở, ngành liên quan sẽ phối hợp xử lý nội bộ. Đơn vị sự nghiệp công lập có thể sử dụng tài sản công để liên doanh, liên kết với doanh nghiệp thực hiện dự án PPP, nhưng phải lập đề án sử dụng tài sản công, có thẩm định, phê duyệt và công khai.

Hà Châu