“Chủ động thực thi; phát huy động lực; tăng trưởng bứt phá”
Thời gian: 13/12/2025 09:02

Tư tưởng “Nước lấy dân làm gốc” - Chân lý thắng lợi của cách mạng Việt Nam, nền tảng vững chắc để bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ 

 

Chủ nghĩa Mác – Lênin đã để lại cho nhân loại những quan điểm duy vật biện chứng khoa học, cách mạng, trong số đó là đánh giá vai trò quyết định của quần chúng nhân dân đối với sự phát triển của lịch sử. Kế thừa, vận dụng sáng tạo và phát triển quan điểm đó vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, tư tưởng Hồ Chí Minh mở ra trang mới cho lịch sử dân tộc. Đến với Hồ Chí Minh, quan điểm về sức mạnh Nhân dân được phát triển ở một tầm cao mới: “Nước lấy dân làm gốc”. Cốt lõi, xuyên suốt trong tư tưởng “Nước lấy dân làm gốc” là tôn trọng, phát huy sức mạnh đoàn kết, phát huy mọi năng lực của dân và dân là nền tảng cho mọi thành tựu của quốc gia, dân tộc.

    Cách đây hơn một thế kỷ, năm 1911, với tấm lòng yêu nước thương dân, người thanh niên Nguyễn Tất Thành ra đi tìm con đường cứu nước cho dân tộc Việt Nam với hai bàn tay trắng cùng hành trang quyết tâm khao khát “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi”, người thanh niên ấy ròng rã đi qua gần 30 quốc gia, 04 châu lục, 03 đại dương mở ra hành trình phi thường, sáng tạo, dẫn đường giải phóng dân tộc, giải phóng con người. Người sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam, lãnh đạo cách mạng đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác bằng một chân lý bất biến “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”. Thật vậy, có dân là có tất cả. Sức mạnh của Nhân dân là vô cùng vĩ đại. Điều đó, được minh chứng qua bao thắng lợi vẻ vang của dân tộc. Cách mạng tháng Tám thành công. Dân tộc Việt Nam - từ một quốc gia thuộc địa nửa phong kiến với hơn 80 năm xiềng xích thực dân, phát xít, chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ, đến thiết lập nền dân chủ cộng hòa, mở ra kỷ nguyên độc tập, tự do. Nhân dân Việt Nam - từ thân phận nô lệ, bị áp bức tột cùng trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của mình. Đảng ta - một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, tạo ra cuộc “đổi đời” cho dân tộc. Lần đầu tiên trong lịch sử, Nhân dân được quyền bầu cử lập ra Nhà nước – Nhà nước của dân, do dân và vì dân. Thắng lợi đó là kết quả của việc huy động lực lượng toàn dân tộc với lời kêu gọi “Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”, là sự gắn bó máu thịt của gần 5.000 đảng viên lúc bấy giờ với hàng triệu người dân nổi dậy thành phong trào Việt Minh rộng khắp. Đáp ứng đúng yêu cầu, nguyện vọng của dân, phát huy được sức mạnh toàn dân – Đảng lập nên lịch sử. Sau Cách mạng tháng Tám, chính quyền cách mạng non trẻ của ta đứng trước tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”, khó khăn vì thù trong giặc ngoài, giặc đói giặt dốt, ngân quỹ quốc gia chỉ vỏn vẹn còn hơn 01 triệu đồng… Bác đề ra phong trào yêu nước, phát động “tuần lễ vàng”, kêu gọi sự ủng hộ của Nhân dân. Đáp lại niềm tin yêu với Đảng với Bác Hồ, trong thời gian ngắn ta đã quyên góp được 370 cây vàng, 60 triệu đồng. Hơn lúc nào hết, sức mạnh của lòng dân giúp Đảng ta vượt qua tất cả khó khăn, chướng ngại. Dựa vào sức dân, đi theo đường lối nhân dân, Việt Nam tạo nên kỳ tích vẻ vang – Chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, đỉnh cao của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, đánh dấu bước ngoặt bi thảm của đế quốc Pháp, buộc Pháp phải ký hiệp định Giơnevơ, cam kết chấm dứt chiến tranh tại Việt Nam. Vì là cuộc chiến tranh phi nghĩa, nên nước Pháp tuy hùng mạnh, nhưng không thể huy động lực lượng và sự ủng hộ của toàn dân Pháp tham gia vào cuộc chiến. Pháp thất bại. Vì là cuộc chiến đấu cho độc lập, tự do, phù hợp với nguyện vọng của Nhân dân, phù hợp với quy luật của lịch sử, nên Việt Nam dù nhỏ bé, nhưng với tinh thần “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, “mỗi làng xóm, mỗi đường phố là một pháo đài, mỗi người dân là một chiến sĩ”. Việt Nam tạo nên cơn địa chấn trong lịch sử nhân loại.

Hết chống Pháp, rồi đến đánh Mỹ. Sức mạnh nội lực vô tận của dân tộc Việt Nam một lần nữa làm nên đỉnh cao Đại thắng mùa Xuân năm 1975. Chủ tịch Hồ Chí Minh khơi dậy và phát huy sức mạnh toàn dân tộc thông qua lời kêu gọi cả nước tiến lên đánh thắng giặc Mỹ xâm lược: “31 triệu đồng bào ta ở cả hai miền, bất kỳ già trẻ, gái trai, phải là 31 triệu chiến sĩ anh dũng diệt Mỹ, cứu nước, quyết giành thắng lợi cuối cùng”. Lời kêu gọi vang vọng, thúc giục đồng bào chung tay đánh Mỹ, bảo vệ Tổ quốc. Chiến thắng đi vào lịch sử nhân loại như một “chiến công vĩ đại của thế kỷ XX”. Mở ra kỷ nguyên mới cho dân tộc – kỷ nguyên xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, đổi mới, hội nhập và phát triển. Tiếp tục phát huy ý nghĩa thực tiễn của chân lý “Nước lấy dân làm gốc”, Đảng lãnh đạo Nhân dân tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện đất nước từ năm 1986 đến nay. Qua các kỳ đại hội, tư tưởng về lấy dân làm gốc luôn là bài học kinh nghiệm quý báu của Đảng. Sức mạnh toàn dân lại tiếp tục được phát huy, tạo nên các phong trào sản xuất thi đua sôi nổi, đưa đất nước hòa cùng nhịp thở của thời đại. Đảng nhận rõ: Đổi mới chính là sự nghiệp cách mạng của Nhân dân, bởi nó bắt nguồn từ nguyện vọng, thực tiễn Nhân dân, do dân sáng tạo và dân tổ chức thực hiện dưới sự lãnh đạo của Đảng. Do đó, đổi mới phải luôn luôn quán triệt quan điểm lấy dân làm gốc. Bởi lẽ, như Bác đã khẳng định: “Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân…Quyền hành lực lượng đều ở nơi dân”.

Qua gần 40 năm đổi mới, đất nước, xã hội và con người Việt Nam đều đổi thay với nhiều thành tựu to lớn. Việt Nam đã có quy mô nền kinh tế gần 500 tỉ USD, tăng gần 100 lần so với năm 1986. Việt Nam nằm trong nhóm 40 nước có nền kinh tế lớn nhất thế giới. Số quốc gia thiết lập mối quan hệ ngoại giao tăng nhanh: năm 1985 với 112 quốc gia, năm 2024 đã tăng lên 194 quốc gia. Việt Nam có quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với 12 cường quốc trên thế giới. Đời sống người dân được cải thiện rõ rệt, Việt Nam về đích trước 10 năm so với mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ về giảm nghèo. Luôn là thành viên chủ động, tích cực và có trách nhiệm cao trong các tổ chức, diễn đàn quốc tế quan trọng...  Bằng tất cả niềm tự hào, Việt Nam dõng dạc khẳng định với cả thế giới rằng: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay như lời đồng chí Cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú trong đã khẳng định. Đảng chèo lái con thuyền cách mạng, đưa đất nước bước vào thời kỳ hưng thịnh nhưng với mục tiêu hoàn toàn khác xa với các chế độ còn lại. Tiến lên chủ nghĩa xã hội, Đảng luôn đặt mục tiêu lấy dân làm gốc, không vì chạy theo phát triển kinh tế mà bỏ quên nền tảng bền vững là Nhân dân, mục tiêu của sự phát triển là con người và vì con người, không để một người dân nào bị bỏ lại phía sau. Đó là cơ sở để Nhân dân tin Đảng, yêu Đảng và bảo vệ Đảng trong suốt hành trình cách mạng xây dựng đất nước “đàng hoàng hơn”, “to đẹp hơn”.

Khi đất nước ta càng đạt được nhiều thành tựu, thì các thế lực lại càng chống phá quyết liệt, nhưng càng chống phá chúng lại càng thất bại. Dưới quyết tâm chính trị của Đảng về kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy,… các thế lực thù địch, phản động, các phần tử cơ hội chính trị lập tức dùng các chiêu bài đóng góp ý kiến, hội luận, hội thảo, giả danh khoa học để bôi nhọ. Chúng không ngừng đả kích: Không có cái gọi là “kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”; Việt Nam không có điều kiện và tiền đề để đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới; kỷ nguyên mới chỉ là “chiêu trò mị dân”, không rõ cách thức, phương hướng để bước vào kỷ nguyên mới. Cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy chỉ là một chủ trương rất hình thức và vô cùng tốn kém, là nguyên nhân làm cho bộ máy bị xáo trộn, gây bất ổn chính trị, ảnh hưởng đến tâm lý, tư tưởng của cán bộ, công chức và Nhân dân, thực chất chỉ để thanh trừng phe nhóm, đấu đá nội bộ, … Chúng đưa ra những luận điệu sai trái, bịa đặt nhằm xuyên tạc, đả phá, hạ thấp vai trò, uy tín của Đảng và đồng chí Tổng Bí thư, mục đích cuối cùng hòng làm mất niềm tin của Nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, vào con đường đi lên xã hội chủ nghĩa.

Nhưng chúng càng ra sức chống phá, thì những kết quả dưới sự lãnh đạo của Đảng mang lại là minh chứng hùng hồn để phản bác những luận điệu xuyên tạc và càng củng cố niềm tin của Nhân dân vào Đảng. Bởi lẽ, mọi chủ trương, đường lối của Đảng đề ra đều lấy dân làm gốc, mọi thành quả đạt được dân đều thụ hưởng. Những chủ trương, quyết sách chiến lược đề ra đều “Lấy người dân làm trung tâm”, những nỗ lực của cả hệ thống chính trị trong việc tinh gọn bộ máy, đẩy mạnh mục tiêu tăng trưởng kinh tế, thực hiện chuyển đổi số đột phá khoa học – công nghệ, xóa nhà tạm nhà dột nát, miễn học phí cho học sinh, … đưa đất nước phát triển, đời sống Nhân dân được nâng cao, Nhân dân tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng. Ý Đảng lòng dân được củng cố, dân sẽ bảo vệ Đảng làm cho Đảng luôn đứng vững trước âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch. Cũng cần nhìn nhận rằng, hiện nay, thực tế vẫn còn xảy ra hiện tượng “làm giảm lòng tin của Nhân dân đối với Đảng”. Do ảnh hưởng của mặt trái nền kinh tế thị trường đã làm gia tăng sự bất bình đẳng trong xã hội; tình trạng chênh lệch giàu - nghèo có xu hướng gia tăng; đời sống vật chất và tinh thần, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng đông đồng bào dân tộc còn nhiều khó khăn; một số chính sách chưa đáp ứng nguyện vọng, lợi ích của Nhân dân, nhiều bức xúc chưa được giải quyết; quyền làm chủ của Nhân dân nhiều nơi bị vi phạm; vẫn còn tình trạng tham nhũng, lãng phí; suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên… Đây chính là mảnh đất màu mỡ để các thế lực thù địch lợi dụng xuyên tạc, chống phá gây sự hoài nghi, hiểu nhầm trong dân đối với sự lãnh đạo của Đảng, nhầm kích động, chia rẽ mối quan hệ giữa Nhân dân với Đảng. Tuy là những chiêu bài đã cũ, nhưng đó là những thủ đoạn rất xảo quyệt, nguy hiểm và thâm độc. Nếu không tỉnh táo, mỗi người sẽ dễ dàng bị dẫn dắt, mơ hồ và hoài nghi. Chính vì thế, đòi hỏi mỗi cá nhân phải luôn cảnh giác, tỉnh táo trước trận chiến khốc liệt này. Đồng thời, nhắc nhở Đảng phải luôn giữ vững chân lý “Nước lấy dân làm gốc” để đập tan mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch.

Để tiếp tục khẳng định, củng cố và phát triển tư tưởng “Nước lấy dân làm gốc”, trong thời gian tới chúng ta cần tập trung đẩy mạnh thực hiện một số giải pháp sau đây:

Một là, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp uỷ, tổ chức đảng, chính quyền, người đứng đầu các địa phương, cơ quan, đơn vị và cán bộ, đảng viên về tư tưởng “Nước lấy dân làm gốc”. Phải phát huy được vai trò của người đứng đầu trong lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị gắn với đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, lãng phí, tham nhũng, tiêu cực; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát gắn với phát huy dân chủ. Điều này tỉ lệ thuận với sự bền vững của chế độ.

Hai là, nâng cao năng lực và phẩm chất của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Bởi uy tín của Đảng ra sao, lòng tin của dân đối với Đảng như thế nào phụ thuộc rất lớn vào năng lực và phẩm chất của cán bộ, đảng viên. Mỗi cán bộ, đảng viên phải vừa hồng vừa chuyên, vừa có đức vừa có tài, trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân, có trách nhiệm với dân, để làm dân tin, dân yêu, dân phục. Mỗi cán bộ, đảng viên phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, nhận thức rõ ràng mục tiêu, động cơ cách mạng, vào Đảng không phải là để “làm quan phát tài”, vào Đảng không phải để “thăng quan tiến chức” … mà vào Đảng để phục vụ Nhân dân, để hiểu được tâm tư, biết dân đang nghĩ gì, cần gì, muốn gì để giải quyết yêu cầu chính đáng của dân. Chỉ có như vậy, dân mới tin Đảng, yêu Đảng, ý Đảng lòng dân mới hòa quyện vào nhau, xây nên tường thành vững chắc chống lại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch.

Ba là, chăm lo đời sống cho Nhân dân. Bác đã từng căn dặn: Nếu độc lập mà dân không được hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập đó không có nghĩa lý gì và “Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi, nếu dân dốt là Đảng và Chính phủ có lỗi, nếu dân ốm là Đảng và Chính phủ có lỗi…”. Sự đói kém, thiếu thốn, bức xúc vì nhu cầu vật chất, tinh thần, “cơm áo gạo tiền” trong dân… sẽ nảy sinh nhiều vấn đề tiêu cực trong xã hội. Do đó, mọi quyết sách của Đảng phải luôn hướng tới mục tiêu làm cho dân no, dân ấm, dân yên, dân an. Người dân được tiếp cận và thụ hưởng mọi thành quả của sự phát triển. Chỉ khi Nhân dân “an cư lạc nghiệp”, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc thì mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch đều thất bại. Dân thấy được một chế độ tốt đẹp đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, tự khắc một lòng một dạ đi theo Đảng.

Bốn là, mọi chủ trương, chính sách của Đảng đều phải bắt nguồn từ lợi ích, nguyện vọng của Nhân dân. Việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh. Đảng ra đời không phải để thống trị mà để phục vụ Nhân dân, mưu lợi cho Nhân dân. Do đó, ngoài lợi ích của dân, Đảng không có lợi ích nào khác. Mỗi người cán bộ, đảng viên phải đặt lợi ích của quốc gia, dân tộc, Nhân dân lên trên lợi ích cá nhân. Trong đề ra chủ trương, chính sách, cần lắng nghe, tiếp thu ý kiến của Nhân dân, phát huy dân chủ một cách cao độ vì “Dân chúng biết giải quyết nhiều vấn đề một cách giản đơn, mau chóng, đầy đủ, mà những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn, nghĩ mãi không ra”. Chỉ khi dân tin Đảng, tin vào chế độ xã hội chủ nghĩa thì các thế lực thù địch có dùng bao nhiêu thủ đoạn chống phá thì cũng sẽ không làm dân hoang mang, dao động.

Năm là, nắm vững và giải quyết hài hòa hai mệnh đề giữa vai trò “lãnh đạo” và “đày tớ” của Đảng. Đảng là người lãnh đạo xứng đáng của Nhân dân, “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”, Đảng phải thật sự sáng suốt, trí tuệ để thay mặt Nhân dân, đại diện Nhân dân đề ra đường lối, chủ trương xây dựng, phát triển đất nước. Thấm nhuần lời dạy của Bác: “…chúng ta phải kính trọng nhân dân, phải một lòng một dạ phục vụ nhân dân”, Đảng là đày tớ trung thành của Nhân dân, Đảng phục vụ, chịu trách nhiệm trước Nhân dân. Điều này đòi hỏi cán bộ, đảng viên tuyệt đối tránh tư tưởng kiêu ngạo, tự mãn, ham địa vị dẫn đến bệnh quan liêu, xa dân, coi thường dân, không tin dân, không hiểu dân và không thương dân. Xa dân, chúng ta mất nước!

Sáu là, làm tốt công tác tuyên giáo và dân vận, bởi “Dân vận kém thì việc gì cũng kém. Dân vận khéo thì việc gì cũng thành công”. Muốn dân vận khéo “phải tìm mọi cách giải thích cho mỗi một người dân hiểu rõ ràng: Việc đó là lợi ích cho họ và nhiệm vụ của họ, họ phải hăng hái làm cho kỳ được”, “phải dân vận không để sót một ai”. Đảng đề ra mục tiêu, lý tưởng nhưng chỉ có lực lượng Nhân dân mới hiện thực hiện hóa được mục tiêu, lý tưởng ấy. Chủ trương, chính sách thực sự đi vào cuộc sống khi và chỉ khi được Nhân dân đồng tình và ủng hộ “Dễ mười lần không dân cũng chịu, khó trăm lần dân liệu cũng xong”. Do đó, cần tuyên truyền làm cho Nhân dân hiểu rõ về chế độ xã hội chủ nghĩa mà ta đang xây dựng, giáo dục để Nhân dân kiên định bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác các quan điểm sai trái thù địch. Từ đó, tạo sự đồng thuận và củng cố niềm tin trong Nhân dân.

 “Nước lấy dân làm gốc” ở mọi thời kỳ cách mạng luôn là chân lý, là nền tảng vững bền để giữ vững mối quan hệ máu thịt với Nhân dân, để bảo vệ chế độ, bảo vệ Đảng. Hiện nay, khi đất nước đang bước vào kỷ nguyên phát triển mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, kỷ nguyên của ấm no, phồn vinh và rạng ngời, ghi dấu ấn 40 năm đổi mới. Bài học “Nước lấy dân làm gốc” vẫn còn nguyên giá trị. Bởi như cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã phát biểu: “Ta làm hợp lòng dân thì dân tin và chế độ ta còn, Đảng ta còn. Ngược lại, nếu cái gì làm trái lòng dân, để mất niềm tin là mất tất cả”. Do đó, Đảng phải luôn tự chỉnh đốn, cán bộ, đảng viên phải luôn tự soi, tự sửa để xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng chân chính và cách mạng, “là đạo đức, là văn minh”. Thật sự thấm nhuần tư tưởng “Nước lấy dân làm gốc” sẽ là nền tảng đập tan mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, bởi “Gốc có vững thì cây mới bền, xây lầu thắng lợi trên nền Nhân dân”. “Nước lấy dân làm gốc” chân lý thời đại, mang giá trị vững bền cho hôm nay và mai sau.