“Chủ động thực thi; phát huy động lực; tăng trưởng bứt phá”
Thời gian: 05/02/2026 15:36

Sửa đổi, bổ sung một số quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố Hải Phòng

Triển khai thực hiện Nghị quyết số 254/2025/QH15 ngày 11/12/2025 của Quốc hội quy định một số cơ chế, chính sách tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong tổ chức thi hành Luật Đất dai, Sở Nông nghiệp và Môi trường đã dự thảo Quyết định của Uỷ ban nhân dân thành phố sửa đổi, bổ sung một số điều tại Quy định chi tiết một số nội dung về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố Hải Phòng ban hành kèm theo Quyết định số 171/2025/QĐ-UBND ngày 24/9/2025 của Uỷ ban nhân dân thành phố nhằm đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ trong thi hành pháp luật và đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, hộ gia đình khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố, nội dung sửa đổi, bổ sung cụ thể như sau:

“2. Tỷ lệ quy đổi khi bồi thường bằng đất có mục đích sử dụng khác với loại đất thu hồi hoặc bằng nhà ở được xác định như sau:

Tỷ lệ quy đổi bằng giá bồi thường của loại đất thu hồi chia cho giá đất tính tiền sử dụng đất, tiền thuê đất khi bồi thường bằng đất có mục đích sử dụng khác với loại đất thu hồi (hoặc giá của nhà ở khi bồi thường bằng nhà ở).

Trong đó:

Giá bồi thường của loại đất thu hồi là giá đất do cấp có thẩm quyền quyết định tại thời điểm phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.

Giá đất tính tiền sử dụng đất, tiền thuê đất khi bồi thường bằng đất có mục đích sử dụng khác với loại đất thu hồi là giá đất do cấp có thẩm quyền quyết định tại thời điểm phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, trừ trường hợp thuê đất trả tiền một lần là giá cụ thể do Ủy ban nhân dân thành phố quyết định.

Giá nhà ở do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định tại thời điểm phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư. Trường hợp bố trí nhà ở tái định cư tại địa bàn cấp xã khác với nơi có đất thu hồi do Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố quyết định.

  • Sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 4 như sau:

“3. Đối với nhà, công trình xây dựng khác không đủ tiêu chuẩn kỹ thuật theo quy định của pháp luật chuyên ngành quy định tại điểm d khoản 1 Điều 14 Nghị định số 88/2024/NĐ-CP:

a) Đối với nhà trông coi tại các khu vực được phép chuyển đổi cơ cấu cây trồng, khu nuôi trồng thủy sản tập trung hoặc các nhà, công trình xây dựng phục vụ trực tiếp sản xuất nông nghiệp trên đất nông nghiệp; nhà, công trình xây dựng khác trên đất trồng lúa theo quy định của pháp luật nếu tại thời điểm xây dựng phù hợp với các quy định về diện tích, số lượng, tiêu chuẩn được phép xây dựng thì mức bồi thường được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều này.

b) Diện tích nhà trông coi được tính bồi thường tối đa là 30,0m2 

c) Số lượng nhà trông coi để tính bồi thường:

Diện tích đất đến 05 ha: 01 nhà trông coi;

Diện tích đất trên 05 ha đến 15 ha: 02 nhà trông coi;

Diện tích đất trên 15 ha đến 20 ha: 03 nhà trông coi;

Diện tích đất trên 20 ha: 04 nhà trông coi.

d) Nhà, công trình xây dựng khác không thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản này và không thuộc trường hợp xây dựng vượt diện tích, vượt số lượng được phép xây dựng thì được bồi thường bằng giá trị còn lại của nhà, công trình xây dựng đó.

Phần diện tích hoặc số lượng nhà, công trình xây dựng vượt quy định không được bồi thường.”.

  • Bổ sung Điều 4A

“Điều 4A. Bồi thường đối với nhà ở, công trình phục vụ đời sống gắn liền với đất bị cắt xén, tháo dỡ một phần.

1. Trường hợp cầu thang bị phá dỡ một phần thì được bồi thường toàn bộ cầu thang.

2. Trường hợp ban công bị phá dỡ một phần thì được bồi thường toàn bộ ban công.

3. Trường hợp phá dỡ nhà:

a) Phá dỡ dưới 10% tính trên tổng diện tích sàn nhà, công trình xây dựng, được tính là 30% giá trị nhà, công trình;

b) Phá dỡ từ 10% - 40% tính trên tổng diện tích sàn nhà, công trình xây dựng, được tính gấp 02 (hai) lần giá trị phá dỡ (tương ứng từ 20% - 80% giá trị nhà, công trình);

c) Phá dỡ trên 40% tính trên tổng diện tích sàn nhà, công trình xây dựng, được tính là 100% giá trị nhà, công trình.

Giá trị bồi thường tại khoản 1,2,3 điều này được tính theo đơn giá bồi thường do Ủy ban nhân dân thành phố ban hành.

4. Ngoài việc bồi thường trong phần diện tích bị cắt xén, phá dỡ theo quy định tại khoản 1, 2, 3 Điều này thì người có tài sản tháo dỡ còn được hỗ trợ bổ sung phần bị ảnh hưởng được quy định như sau:

a) Đối với nhà khung bê tông cốt thép hoặc kết cấu khung thép thì diện tích sàn xây dựng được hỗ trợ bổ sung tính từ chỉ giới cắt xén theo quy hoạch đến khung kết cấu chịu lực gần nhất và nhân với số tầng bị cắt xén;

b) Đối với nhà kết cấu xây gạch chịu lực bị cắt xén một phần, không ảnh hưởng đến an toàn của căn nhà thì diện tích sàn xây dựng được hỗ trợ bổ sung bằng chiều rộng phần bị cắt xén với chiều sâu 1,0 m tính từ chỉ giới quy hoạch và nhân với số tầng nhà bị cắt xén;

c) Giá trị hỗ trợ bổ sung phần bị ảnh hưởng trên được tính 100% giá trị xây mới.”.

  • Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 1 Điều 9 như sau:

a) Đối với mộ cát táng:

Mộ đất:                                                     5.000.000 đồng/mộ.

Mộ xây đơn giản:

Thể tích dưới 0,4m3                 

5.500.000 đồng/mộ

Thể tích từ 0,4 m3 đến 0,6 m3    

6.000.000 đồng/mộ

Thể tích trên 0,6 m3         

7.000.000 đồng/mộ

Mộ xây đặc biệt có trang trí ốp lát và mộ xây theo kiểu lăng tẩm: Bồi thường theo hiện trạng để có thể di chuyển xây dựng như cũ. Mức bồi thường theo đơn giá của mộ xây đơn giản cộng thêm các chi phí xây dựng phần trang trí ốp lát. Trường hợp lăng tẩm đặc biệt có dự toán thiết kế riêng, trên cơ sở hồ sơ thiết kế tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường lập phương án bồi thường theo quy định.”.

  • Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 15 như sau:

“1. Người có đất ở bị thu hồi để thực hiện dự án đầu tư xây dựng khu đô thị thì được bồi thường bằng đất ở, nhà ở tại chỗ; trong thời gian chờ bố trí tái định cư mà không được bố trí vào nhà ở tạm thì được hỗ trợ tiền thuê nhà ở, mức và thời gian hỗ trợ cụ thể như sau:

a) Hỗ trợ 05 triệu đồng/tháng/hộ có dưới 03 người; 08 triệu đồng/tháng/hộ có từ 3 người trở lên.

b) Thời gian hỗ trợ tiền thuê nhà được tính theo tiến độ thực hiện dự án đầu tư thể hiện tại dự án đầu tư được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt (lần đầu); quá thời hạn trên, chủ đầu tư dự án chịu trách nhiệm chi trả tiền thuê nhà trong trường hợp dự án chậm tiến độ.”.

c) Trường hợp thu hồi một phần đất ở mà người có đất thu hồi không đủ điều kiện bố trí tái định cư nhưng thực tế nhà và công trình bị phá dỡ toàn bộ hoặc một phần phải xây dựng lại thì được hỗ trợ tiền thuê nhà, mức hỗ trợ theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều này, thời gian hỗ trợ là 06 tháng”.

  • Bổ sung Điều 17A

“Điều 17A.  Bố trí tạm cư đối với trường hợp quyết định thu hồi đất trước khi hoàn thành việc bố trí tái định cư.

1. Trường hợp quyết định thu hồi đất trước khi hoàn thành việc bố trí tái định cư: Người bị thu hồi đất ở, nhà ở trong thời gian chờ tạo lập chỗ ở mới (bố trí vào khu tái định cư) được bố trí vào nhà ở tạm cư hoặc hỗ trợ tiền thuê nhà ở tạm cư, mức hỗ trợ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 15 quy định này.  Thời gian hỗ trợ là 6 tháng.”

Việc chi trả hỗ trợ thuê nhà chỉ thực hiện sau khi hộ gia đình, cá nhân đã bàn giao mặt bằng cho dự án đúng thời gian quy định.

4. Trường hợp trong hộ gia đình có nhiều thế hệ, nhiều cặp vợ chồng cùng chung sống trên một thửa đất ở thu hồi, nếu đủ điều kiện để tách thành từng hộ gia đình riêng theo quy định của pháp luật về cư trú hoặc có nhiều hộ gia đình có chung quyền sử dụng 01 (một) thửa đất ở thu hồi, đồng thời mỗi hộ gia đình phải đảm bảo không còn đất ở, nhà ở nào khác trong địa bàn xã, phường, đặc khu nơi có đất thu hồi thì được hỗ trợ di chuyển và hỗ trợ thuê nhà cho từng hộ gia đình đó.”.

  • Bổ sung Điều 17B.

“Điều 17B. Bố trí tái định cư trong trường hợp địa điểm bố trí tái định cư ngoài địa bàn đơn vị hành chính cấp xã nơi có đất thu hồi

Hộ gia đình, cá nhân khi Nhà nước thu hồi đất gắn liền với nhà ở phải di chuyển chỗ ở, nếu tại địa bàn đơn vị hành chính cấp xã nơi có đất bị thu hồi không quỹ đất để bố trí tái định cư thì Uỷ ban nhân dân cấp xã chủ động phối hợp với các địa phương khác có điều kiện tương đương đề xuất quỹ đất tái định cư báo cáo Uỷ ban nhân dân thành phố quyết định theo từng dự án cụ thể.”.

  • Sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 19 như sau:

“3. Trường hợp tự lo chỗ ở thì được hỗ trợ một lần bằng tiền để tự lo chỗ ở mới, mức hỗ trợ bằng 60% giá trị đất và 60% giá trị nhà đang thuê.”.

  • Bổ sung Điều 19A.

“Điều 19A. Hỗ trợ khác khi nhà nước thu hồi đất.

1. Hỗ trợ đối với diện tích đất nông nghiệp do hộ gia đình, cá nhân sử dụng trước ngày 01/7/2014 không được bồi thường về đất theo quy định tại khoản 7 Điều 12 Nghị định số 88/2024/NĐ-CP ngày 15/7/2024 của Chính phủ: Mức hỗ trợ không quá 100% giá đất nông nghiệp theo bảng giá do Ủy ban nhân dân Thành phố ban hành.

2. Hỗ trợ đối với diện tích đất phi nông nghiệp không phải là đất ở do hộ gia đình, cá nhân sử dụng trước ngày 01/7/2014 không được bồi thường theo quy định tại khoản 9 Điều 13 Nghị định số 88/2024/NĐ-CP ngày 15/7/2024 của Chính phủ: Mức hỗ trợ là 30% giá đất của loại đất thu hồi theo bảng giá do Ủy ban nhân dân Thành phố ban hành.

3. Hộ gia đình, cá nhân thu hồi đất ở phải di chuyển chỗ ở hoặc thu hồi diện tích đất nông nghiệp từ 200m2 trở lên đủ điều kiện bồi thường thuộc diện gia đình chính sách được hỗ trợ 01 lần với mức như sau:

a) Người có công với cách mạng: 20.000.000 đồng/hộ.

b) Hộ nghèo, cận nghèo: 10.000.000 đồng/hộ.

4. Hộ gia đình, cá nhân đang thuê nhà ở không phải là nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước, khi Nhà nước thu hồi đất mà phải di chuyển chỗ ở thì được hỗ trợ chi phí di chuyển tài sản với mức hỗ trợ 10.000.000đồng.

5. Trường hợp hồ, ao nuôi trồng thủy sản phải đắp bờ bao hoặc phải đào sâu xuống lòng đất thì phần bờ bao thực tế phải đắp; phần ao, hồ thực tế phải đào sâu được áp dụng đơn giá để tính hỗ trợ theo khối lượng đất thực tế có đào hoặc có đắp (chỉ tính cho 01 phần việc đào hoặc đắp có giá trị lớn hơn) với mức hỗ trợ như sau:

a) Chi phí đào: 60.000 đồng/m3.

b) Chi phí đắp: 100.000 đồng/m3.

6. Trường hợp hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất công ích nhưng không có hợp đồng thuê đất mà thực tế có đầu tư vào đất nhưng không có hồ sơ, chứng từ chứng minh thì trên cơ sở người có đất thu hồi tự kê khai các khoản đã đầu tư vào đất theo quy định tại khoản 2 Điều 107 Luật Đất đai, hỗ trợ chi phí đầu tư vào đất còn lại bằng với mức bồi thường theo quy định tại khoản 2 Điều 5 Quy định này.

7. Căn cứ tình hình thực tế của từng dự án nếu phát sinh các trường hợp đặc biệt ngoài các nội dung hỗ trợ theo quy định tại Điều này. Ủy ban nhân dân cấp xã báo cáo đề xuất gửi Sở Nông nghiệp và Môi trường chủ trì phối hợp với các Sở, ngành liên quan kiểm tra, báo cáo Uỷ ban nhân dân thành phố xem xét giải quyết theo từng dự án cụ thể.

Việc đề xuất hỗ trợ khác khi giải phóng mặt bằng thực hiện các dự án phải đảm bảo đúng quy định tại khoản 2 Điều 108 Luật Đất đai, khoản 7 Điều 12 và khoản 8 Điều 13 Nghị định số 88/2024/NĐ-CP ngày 15/7/2024 của Chính phủ, không đề xuất Uỷ ban nhân dân thành phố xem xét hỗ trợ khác đối với các trường hợp có sai phạm về lấn chiếm đất đai, xây dựng trái phép trên đất nông nghiệp và đất hành lang giao thông.”.

  • Bổ sung Điều 19B.

“Điều 19B. Quy định chuyển tiếp đối với thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.

Đối với dự án còn một phần diện tích đất chưa phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trước ngày Nghị quyết này có hiệu lực thi hành thì tiếp tục thực hiện việc thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo quy định của Luật Đất đai”.

Dự thảo được đăng tải trên Cổng thông tin điện tử thành phố để lấy ý kiến Nhân dân, tổ chức, doanh nghiệp.

Trà My