“Chủ động thực thi; phát huy động lực; tăng trưởng bứt phá”
Thời gian: 08/10/2025 10:02

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) và một số vấn đề pháp lý đặt ra ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Trí tuệ nhân tạo có tên tiếng Anh là Artificial Intelligence (viết tắt là AI). Đây là một lĩnh vực khoa học máy tính giúp tạo ra các hệ thống máy móc có khả năng học hỏi, suy nghĩ, giải quyết vấn đề và hành động thông minh, giống như con người. 

Trong thời đại phát triển của công nghệ thông tin và sự bùng nổ của cuộc cách mạng 4.0, AI đã trở nên quen thuộc và phổ biến trong đời sống xã hội. AI đã có mặt ở mọi lĩnh vực từ giáo dục, y tế, hàng không đến ngân hàng, công nghệ, giải trí… cho thấy tầm quan trọng của công nghệ trong đời sống nhân loại nhưng cũng đặt ra những vấn đề pháp lý cần phải quan tâm nghiên cứu.

AI là công cụ hỗ trợ nhưng AI không thay thế được con người

So với bộ não con người, AI có những thế mạnh vượt trội, như: khả năng tính toán (AI có thể thực hiện các phép tính phức tạp và xử lý trên dữ liệu lớn trong thời gian rất ngắn); khả năng lưu trữ (AI có một bộ nhớ siêu phàm, không bị ảnh hưởng cũng như tác động của các yếu tố bên ngoài)… Tuy nhiên, trí tuệ con người lại có những sức mạnh riêng: Nếu như AI có thể sinh ra các kết quả dựa trên quá trình học nhưng không mang tính sáng tạo thì bộ não của con người lại giàu tính sáng tạo, tính linh hoạt. Mặc dù công nghệ đã phát triển đến mức có thể thực hiện các nhiệm vụ với tốc độ và độ chính xác cao nhưng cho đến nay AI vẫn chưa có khả năng sử dụng tư duy phản biện. AI thường được lập trình để thực hiện các nhiệm vụ theo những gì nó đã biết, nhưng lại không thể đưa ra quyết định khi gặp phải những tình huống vượt quá những điều nó đã học được. Bên cạnh đó, vì AI lấy dữ liệu làm nguồn sống” nên khi dữ liệu được cung cấp không chuẩn xác thì AI có thể bị đánh lừa” dẫn đến việc cung cấp những kết quả thiếu trung thực trong khi con người với tư duy phản biện hoàn toàn có thể nhận ra. điều quan trọng là con người là chủ thể có đạo đức, có tình cảm, có sự tinh tế, thấu cảm mà AI không thể đạt đến, đặc biệt trong những lĩnh vực cần đến sự tinh tế, tận tâm hay cần đến sự thăng hoa của cảm xúc như lĩnh vực giáo dục, văn học- nghệ thuật... thể khẳng định rằng, việc sử dụng AI trong giai đoạn hiện nay là cần thiết, là tất yếu nhưng AI chỉ là một công cụ hỗ trợ, AI không thể thay thế vai trò của con người. Cơ sở để lý giải điều này xuất phát từ việc con người có thể tương tác và giao tiếp với nhau một cách tự nhiên với những biểu hiện cảm xúc phong phú, đa dạng và bởi “con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội”.

Sử dụng AI một cách có đạo đức và trách nhiệm

Sự phát triển mạnh mẽ của trí tuệ nhân tạo đã mở ra những những cơ hội mới hay những lợi ích đáng kể đối với nhân loại nhưng đồng thời cũng đặt ra những vấn đề về pháp lý cần được xem xét, giải quyết, trong đó có vấn đề đạo đức của AI. Ví dụ như: Trong giáo dục, sự phụ thuộc quá mức vào AI trong quá trình học tập có thể làm giảm khả năng tự học và sáng tạo của học sinh. Việc học sinh, sinh viên lạm dụng AI để giải quyết bài tập khiến cho việc học trở nên dễ dàng hơn nhưng lại thiếu đi tính sáng tạo, khả năng tư duy độc lập cũng như không thể phát triển kỹ năng tư duy phản biện… Trong hoạt động văn hóa - nghệ thuật, việc lạm dụng AI có thể vi phạm bản quyền do AI thường được huấn luyện trên dữ liệu thu thập từ Internet mà không có sự cho phép của chủ sở hữu gốc, dẫn đến sản phẩm được tạo ra có thể chứa các yếu tố sao chép hoặc giống với tác phẩm gốc, vi phạm quyền tác giả. Sự thiếu khung pháp lý rõ ràng cho các sản phẩm do AI tạo ra có thể làm mờ ranh giới giữa sáng tạo và sao chép, khiến các vấn đề bản quyền trở nên phức tạp và khó xử lý hơn. Đạo đức AI ảnh hưởng tới các khía cạnh cuộc sống như xã hội, pháp lý, cạnh tranh thương mại và thậm chí cả cạnh tranh chính trị... Chính vì vậy, đạo đức AI là vấn đề phức tạp, có quy mô toàn cầu, đang thu hút sự quan tâm của nhiều tổ chức, nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Các quốc gia hướng tới việc xây dựng hành lang pháp lý cho AI nhằm phát triển AI một cách có đạo đức trách nhiệm.

khu vực châu Á, Trung Quốc và Nhật Bản các quốc gia có nhiều bước tiến trong việc phát triển AI có trách nhiệm. Nếu như Nhật Bản hướng tới bộ quy tắc AI lấy con người làm trung tâm và vẫn đảm bảo tham gia được các diễn đàn quốc tế thì Trung Quốc chọn cách vừa tự chủ phát triển AI, vừa đẩy mạnh quản trị trong nước. Quá trình quản lý trí tuệ nhân tạo tại các nước trong khu vực cũng như các nước phát triển trên thế giới có thể trở thành kinh nghiệm phát triển AI có trách nhiệm ở Việt Nam. Ngoài tính pháp lý, trách nhiệm ở đây còn là trách nhiệm với xã hội, với con người.

Một số vấn đề pháp lý về AI tại Việt Nam

Ngày 26/01/2021, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 127/QĐ-TTg ban hành Chiến lược quốc gia về nghiên cứu, phát triển và ứng dụng trí tuệ nhân tạo đến năm 2030. Chiến lược xác định sự cần thiết phải “Xây dựng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và hành lang pháp lý liên quan đến trí tuệ nhân tạo”.

Ngày 22/12/2024, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đã xác định AI là một trong những công nghệ lõi, then chốt cho sự phát triển của quốc gia, thúc đẩy việc làm chủ công nghệ, giảm sự phụ thuộc và tạo động lực cho chuyển đổi số trong kỷ nguyên mới.

Để trí tuệ nhân tạo phát triển một cách có trách nhiệm, việc quản lý cần được coi trọng từ khâu xác định mô hình AI, thu thập dữ liệu, đến bước hoàn thiện hệ thống và đưa vào ứng dụng trong thực tế. Với thực tiễn Việt Nam, quá trình này cần sự phối hợp của nhiều bên liên quan, từ các nhà kỹ sư, nhà khoa học tới các cơ quan quản lý như Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Công an… Cùng với sự tham gia của chuyên gia pháp luật còn cần đóng góp của chuyên gia tâm lý học, xã hội học.

Hiện nay, Việt Nam đã xây dựng, ban hành Luật Công nghiệp công nghệ số, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026, trong đó có nội dung về đạo đức sản phẩm số, gồm cả đạo đức AI. Một số nguyên tắc quan trọng về đạo đức AI đã được quy định trong Luật như đảm bảo an toàn dữ liệu cá nhân, tôn trọng quyền tác giả, bản quyền sở hữu trí tuệ, nâng cao năng suất lao động nhưng cần bảo vệ môi trường, an sinh xã hội. Theo dự kiến, Luật Trí tuệ nhân tạo (AI) sẽ được trình Quốc hội cuối năm 2025, đưa Việt Nam trở thành một trong số ít quốc gia có khung pháp lý toàn diện về AI. Các nguyên tắc cốt lõi được đề cập đến trong dự thảo Luật này bao gồm: Lấy con người làm trung tâm, bảo đảm an toàn và minh bạch, phát triển bao trùm và bền vững, quản trị cân bằng và hài hòa… 

thể nói, trong giai đoạn hiện nay, AI phát triển nhanh chóng và có tác động sâu sắc đến các lĩnh vực của đời sống xã hội. Việc ứng dụng AI cần xác định như một công cụ hỗ trợ nhưng không hoàn toàn thay thế cho con người; ứng dụng AI nhưng con người vẫn cần đề cao tính sáng tạo và chú trọng khía cạnh đạo đức, pháp lý của AI; một số thông tin do AI cung cấp cần thiết được kiểm chứng để đảm bảo tính chính xác tránh chia sẻ dữ liệu cá nhân lên các nền tảng AI để đảm bảo tính an toàn, bảo mật...

Phạm Liên