“Chủ động thực thi; phát huy động lực; tăng trưởng bứt phá”
Thời gian: 26/01/2026 11:20

Nghị quyết số 80-NQ/TW: Một số chỉ tiêu phát triển văn hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045

Ngày 07-01-2026, Tổng Bí thư Tô Lâm đã ký ban hành Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam.

Văn hóa Việt Nam là tinh hoa quý báu được bồi đắp qua hàng ngàn năm lịch sử, đóng vai trò là sức mạnh dẫn dắt sự phát triển của dân tộc và nâng tầm vị thế quốc gia trên trường quốc tế. Dù đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong hội nhập và hoàn thiện thể chế, song sự nghiệp phát triển văn hóa hiện nay vẫn đang đối mặt với những rào cản về cơ chế, sự suy thoái đạo đức và áp lực từ các luồng tư tưởng ngoại lai thiếu lành mạnh. Trước những biến động phức tạp của thời đại, yêu cầu cấp thiết là phải có những sách lược mang tính bứt phá để văn hóa thực sự trở thành trụ cột vững chắc và nền tảng định hướng cho mọi quyết sách phát triển, khẳng định tầm vóc của một Việt Nam văn hiến trong hành trình hướng tới cột mốc một thế kỷ thành lập Đảng và thành lập nước. Từ tình hình trên, Bộ Chính trị yêu cầu tập trung quán triệt, thực hiện quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả các nội dung sau:

I. MỤC TIÊU

 

1. Đến năm 2030

1.1. Mục tiêu chung

Đẩy mạnh xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; thống nhất trong đa dạng; mang đặc trưng dân tộc, dân chủ, nhân văn, khoa học, hiện đại. Xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh từ gia đình, nhà trường đến xã hội và không gian số. Phát triển văn học, nghệ thuật xứng tầm với lịch sử văn hóa dân tộc và tầm vóc đất nước trong kỷ nguyên mới. Cơ bản hoàn thành việc tu bổ, tôn tạo các di tích quốc gia đặc biệt; phục hồi, bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể, nghệ thuật truyền thống có nguy cơ mai một, cần bảo vệ khẩn cấp. Đẩy mạnh phát triển các ngành công nghiệp văn hóa; hình thành hệ sinh thái khởi nghiệp công nghiệp văn hóa, nghệ thuật sáng tạo. Xây dựng một số tập đoàn công nghiệp văn hóa, cụm, khu công nghiệp sáng tạo, tổ hợp sáng tạo văn hóa tầm cỡ quốc tế dựa trên nền tảng công nghệ cao và các mô hình kinh doanh đổi mới sáng tạo. Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế về văn hóa; xây dựng Việt Nam trở thành điểm đến hấp dẫn của các sự kiện văn hóa, nghệ thuật tầm cỡ khu vực và thế giới.

1.2. Một số chỉ tiêu

- Hoàn thiện hệ thống thiết chế văn hóa quốc gia, bảo đảm 100% chính quyền địa phương 2 cấp, lực lượng vũ trang có thiết chế văn hóa đáp ứng được nhu cầu sáng tạo, thụ hưởng văn hóa của người dân ở cơ sở và cán bộ, chiến sĩ, 90% thiết chế văn hóa cơ sở hoạt động thường xuyên, hiệu quả.

- Phấn đấu hoàn thành việc số hóa 100% các di sản văn hóa đã được xếp hạng cấp quốc gia, cấp quốc gia đặc biệt vào năm 2026.

- 100% học sinh, học viên, sinh viên trong hệ thống giáo dục quốc dân được tiếp cận, tham gia hiệu quả, thường xuyên các hoạt động nghệ thuật, giáo dục di sản văn hóa.

- Bảo đảm nguồn lực tương xứng cho phát triển văn hóa; bố trí tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước hàng năm cho văn hóa và tăng dần theo yêu cầu thực tiễn.

- Ban hành cơ chế tài chính để ưu tiên thực hiện trong 3 lĩnh vực đột phá: Đào tạo và đãi ngộ nhân tài trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật; ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa và đặt hàng sáng tạo các công trình văn hóa, tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị cao về tư tưởng, nội dung và nghệ thuật, xứng tầm với nền văn hóa Việt Nam trong kỷ nguyên mới. Thực hiện chủ trương xã hội hóa văn hóa đúng hướng, hiệu quả; đấu tranh khắc phục khuynh hướng “thương mại hóa”, chỉ coi trọng, đề cao một chiều lợi ích kinh tế trong hoạt động văn hóa, coi nhẹ lợi ích xã hội, nhân văn.

- Phát triển các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp 7% GDP; hình thành từ 5 - 10 thương hiệu quốc gia về công nghiệp văn hóa trong các lĩnh vực có tiềm năng, như: Điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, du lịch văn hóa, thiết kế và thời trang,...

- Xây dựng thành công 5 thương hiệu liên hoan nghệ thuật, lễ hội văn hóa quốc tế về điện ảnh, âm nhạc, mỹ thuật. Thành lập thêm từ 1 - 3 trung tâm văn hóa Việt Nam tại nước ngoài, ưu tiên các địa bàn đối tác chiến lược toàn diện. Phấn đấu thêm 5 di sản văn hóa được UNESCO công nhận, ghi danh.

2. Tầm nhìn đến năm 2045

Tầm nhìn chiến lược đến năm 2045 xác lập vị thế của Việt Nam là một quốc gia phát triển có thu nhập cao, nơi văn hóa không chỉ là nền tảng tinh thần mà còn là trụ cột kinh tế vững chắc. Chúng ta đang hướng tới việc biến đất nước thành một trung tâm sáng tạo năng động, điểm đến ưu tiên của các sự kiện nghệ thuật tầm cỡ toàn cầu. Với mục tiêu công nghiệp văn hóa đóng góp tới 9% GDP, văn hóa sẽ chính thức trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn, vận hành dựa trên sự giao thoa giữa di sản và công nghệ số.

Sự hiện diện của 10 thương hiệu liên hoan nghệ thuật tầm vóc quốc tế cùng danh mục di sản được UNESCO công nhận ngày càng mở rộng sẽ là minh chứng cho sức hấp dẫn của thương hiệu quốc gia. Đặc biệt, khát vọng vươn lên Top 3 khu vực ASEAN và Top 30 thế giới về Chỉ số Sức mạnh mềm là một cam kết mạnh mẽ về năng lực gây ảnh hưởng và giá trị xuất khẩu các sản phẩm tinh thần. Trong giai đoạn then chốt của dân tộc, mỗi bước đi này đều nhằm mục tiêu cao nhất là để văn hóa thẩm thấu sâu sắc vào mọi lĩnh vực đời sống, khẳng định bản sắc Việt Nam kiêu hãnh và nhân văn trên bản đồ văn minh nhân loại.

II. NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP

1. Đổi mới mạnh mẽ tư duy, thống nhất cao về nhận thức và hành động nhằm phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới

Để hiện thực hóa tầm nhìn về văn hóa, các cấp ủy và người đứng đầu cần nâng cao nhận thức, đặt sự phát triển văn hóa ngang tầm với chính trị và kinh tế, đồng thời gắn kết chặt chẽ với an ninh con người và chủ quyền số. Văn hóa phải trở thành yếu tố cốt lõi, thấm sâu vào mọi quy hoạch và chính sách phát triển với tầm nhìn dài hạn, lấy con người làm trung tâm và động lực chủ chốt của sự bền vững. Bên cạnh việc đẩy mạnh truyền thông số và đa dạng hóa các hình thức giáo dục hệ giá trị, cần phát huy vai trò nòng cốt của đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ và các tầng lớp nhân dân trong việc sáng tạo, lan tỏa những nét đẹp bản sắc ra thế giới, đồng thời chủ động tiếp thu tinh hoa nhân loại để làm giàu thêm kho tàng văn hiến dân tộc.

2. Hoàn thiện thể chế tạo đột phá chiến lược, khơi thông nguồn lực phát triển văn hóa

Nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu là phải tập trung hoàn thiện hệ thống luật pháp theo hướng kiến tạo và bao trùm, kiên quyết tháo gỡ triệt để các rào cản về cơ chế đang kìm hãm sự sáng tạo, đồng thời mạnh dạn thí điểm những mô hình quản trị tiên tiến như hợp tác công - tư dựa trên nguyên lý lãnh đạo công - quản trị tư. Trọng tâm của mọi hành động phải nằm ở chiến lược đẩy mạnh chuyển đổi số toàn diện, thiết lập các cụm liên kết ngành sáng tạo và thực hiện các chính sách ưu đãi vượt trội về cả đất đai lẫn thuế suất để thu hút các nguồn lực xã hội, đặc biệt là các tập đoàn công nghệ lớn, đầu tư vào hạ tầng số và các sản phẩm nội dung có giá trị tư tưởng cao. Song song đó, cần xác lập những cơ chế đãi ngộ đặc thù, mang tính đột phá để phát hiện và trọng dụng nhân tài, bảo tồn các giá trị nghệ thuật truyền thống quý báu trong khi vẫn thúc đẩy các loại hình nghệ thuật đương đại phát triển mạnh mẽ trên không gian số, từ đó kiến tạo nên những công trình nghệ thuật đỉnh cao, lan tỏa những nét đẹp bản sắc vươn tầm quốc tế và khẳng định vị thế của một Việt Nam văn hiến trong giai đoạn then chốt của dân tộc.

3. Chú trọng xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, xây dựng môi trường văn hóa nhân văn, lành mạnh, văn minh, hiện đại

Trong chiến lược phát triển bền vững, nhiệm vụ cốt lõi hàng đầu là lấy việc bồi đắp phẩm giá con người làm trung tâm để dẫn dắt mọi hoạt động giáo dục và khoa học hướng tới mục tiêu hình thành những cá nhân phát triển toàn diện. Việc giáo dục đạo đức cần được đặt vị trí ưu tiên cao nhất ngay từ bậc mầm non, tạo sự kết nối chặt chẽ giữa gia đình và cộng đồng để xây dựng thế hệ trẻ có bản lĩnh và lòng nhân ái. Song song với đó, cần lan tỏa mạnh mẽ trách nhiệm làm gương của đội ngũ cán bộ, công chức và chuẩn mực của đội ngũ doanh nhân trung thực, tạo nên sự liêm chính xuyên suốt hệ thống chính trị. Điểm nhấn chiến lược của giai đoạn này là sự triển khai đồng bộ các hệ giá trị quốc gia, gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam, kết hợp nhuần nhuyễn giữa tinh hoa truyền thống với hơi thở hiện đại để định hình nên phẩm cách quốc gia trong thời kỳ mới.

Bên cạnh đó, việc kiến tạo một môi trường sống lành mạnh, thượng tôn pháp luật và sạch đẹp từ khu dân cư đến không gian số được coi là nền tảng để nâng cao chất lượng đời sống tinh thần cho nhân dân. Công tác phát triển văn hóa cơ sở phải gắn liền với bảo vệ môi trường sinh thái, phát huy tính tự quản của cộng đồng và các giá trị tín ngưỡng tích cực, đồng thời kiên quyết loại bỏ những biểu hiện suy thoái đạo đức hay những luồng thông tin độc hại trên mạng xã hội. Đặc biệt, để đảm bảo quyền thụ hưởng công bằng, các nền tảng công nghệ số toàn dân sẽ được vận hành nhằm xóa bỏ khoảng cách về hưởng thụ văn hóa giữa các vùng miền. Việc chính thức xác lập ngày 24-11 hàng năm là Ngày Văn hóa Việt Nam không chỉ là một sự tôn vinh mà còn là cơ hội để toàn xã hội cùng thực hành lối sống văn minh, khơi dậy khát vọng cống hiến vì một đất nước phát triển trường tồn và giàu bản sắc trong giai đoạn then chốt của dân tộc.

4. Đổi mới phương thức quản lý văn hóa theo hướng kiến tạo, phục vụ; đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số tạo động lực bứt phá cho phát triển văn hóa

Sự bứt phá của văn hóa trong thời đại mới đòi hỏi việc thiết lập một phương thức quản trị tiên tiến, chuyển dịch mạnh mẽ từ hình thức quản lý hành chính đơn thuần sang hệ hình quản trị đa trung tâm, nơi có sự phối hợp nhịp nhàng giữa Nhà nước, thị trường và cộng đồng sáng tạo. Nguyên tắc cốt lõi của tiến trình này là sự minh bạch và trách nhiệm giải trình, lấy hiệu quả đổi mới quy trình và mức độ số hóa làm thước đo chính xác cho sự phát triển. Chúng ta cần chủ động thay đổi tư duy quản lý, chuyển từ hình thức kiểm tra trước sang giám sát sau dựa trên các quy chuẩn rõ ràng, đồng thời ứng dụng trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn để điều tiết nội dung trên không gian mạng, bảo vệ bản quyền và chủ quyền văn hóa quốc gia trên nền tảng số.

Bên cạnh đó, việc xây dựng bộ máy hành chính tinh gọn và đẩy mạnh phân cấp, phân quyền sẽ tạo điều kiện cho các đơn vị sự nghiệp tăng cường tính tự chủ và đa dạng hóa các dịch vụ công. Đi đôi với cải cách thể chế là chiến lược chuẩn hóa và số hóa toàn diện kho tàng di sản dân tộc, từ đó hình thành nên hệ thống dữ liệu văn hóa quốc gia đồng bộ và hiện đại. Việc kiến tạo các thiết chế văn hóa thông minh như các không gian lưu trữ số, bảo tàng tương tác và nhà hát trực tuyến sẽ giúp xóa bỏ mọi rào cản về khoảng cách, mang nghệ thuật đến gần hơn với mọi lứa tuổi. Trong giai đoạn then chốt của dân tộc, công tác truyền thông chính sách và bảo vệ an ninh thông tin phải được đặt lên hàng đầu, nhằm khẳng định bản sắc và vị thế của một Việt Nam văn hiến, chủ động thích ứng và dẫn dắt xu hướng phát triển trong thế giới công nghệ.

5. Xây dựng hệ sinh thái văn hóa, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, trong đó doanh nghiệp là động lực, người dân vừa là chủ thể vừa là trung tâm; nhận diện và ứng xử thích hợp tài nguyên văn hóa

Hệ sinh thái văn hóa Việt Nam đang chuyển mình trở thành một thực thể sống động, nơi doanh nghiệp sáng tạo giữ vai trò đầu tàu dẫn dắt sự bứt phá và người dân trở thành hạt nhân của mọi sự đổi mới. Bằng việc kiến tạo các không gian nội dung số và các điểm kết nối sáng tạo liên khu vực, chúng ta đang từng bước hình thành chuỗi giá trị văn hóa xuyên suốt từ sản xuất đến thụ hưởng, gắn kết chặt chẽ với du lịch và thương mại toàn cầu. Sức mạnh của nền kinh tế dựa trên giá trị truyền thống được phát huy tối đa khi tài nguyên di sản được số hóa, tạo ra sinh kế bền vững và hình thành nên những đô thị di sản thông minh. Để bộ máy này vận hành trơn tru, việc giải phóng sức sáng tạo của đội ngũ trí thức và trọng dụng những tài năng xuất chúng chính là chìa khóa để kiến tạo nên những tác phẩm đỉnh cao, khẳng định vị thế dân tộc trong giai đoạn then chốt vươn tầm thế giới.

6. Thúc đẩy phát triển các ngành công nghiệp văn hóa, thị trường văn hóa, định vị sản phẩm văn hóa thương hiệu quốc gia gắn với phát triển du lịch văn hóa

Chiến lược phát triển công nghiệp văn hóa trong giai đoạn mới tập trung vào những lĩnh vực có sức bật mạnh mẽ như điện ảnh, âm nhạc, du lịch và nội dung số, nơi công nghệ cao được ứng dụng xuyên suốt từ khâu sáng tạo đến bảo vệ bản quyền. Chúng ta không chỉ dừng lại ở quy mô nhỏ lẻ mà hướng tới việc hình thành các tập đoàn sáng tạo tầm cỡ và vận hành những sàn giao dịch sản phẩm nghệ thuật dưới dạng tài sản số hiện đại. Đây là nền tảng cốt lõi để xây dựng các cụm liên kết sáng tạo, tạo đà cho việc xuất khẩu những giá trị tinh thần của Việt Nam ra thị trường toàn cầu.

Việc định vị thương hiệu quốc gia thông qua các sản phẩm độc đáo, giàu bản sắc sẽ biến văn hóa thành một bộ phận không thể tách rời của nền kinh tế xanh và kinh tế số. Song song đó, ngành du lịch cần được cấu trúc lại theo hướng thông minh và bền vững, lấy trải nghiệm văn hóa làm hạt nhân để tạo ra sức cạnh tranh khác biệt. Mục tiêu sau cùng là đưa Việt Nam trở thành một mắt xích quan trọng trong chuỗi giá trị và cung ứng toàn cầu, khẳng định tầm vóc dân tộc thông qua những thương hiệu điểm đến mang đậm dấu ấn con người Việt Nam trong giai đoạn then chốt của sự phát triển đất nước.

7. Huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, phát triển hạ tầng, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực văn hóa đáp ứng yêu cầu của kỷ nguyên mới

Tầm nhìn chiến lược của dân tộc trong giai đoạn then chốt này không chỉ dừng lại ở bảo tồn, mà là bước tiến đột phá trong việc định giá và chuyển hóa các giá trị di sản thành những tài sản kinh tế thực thụ. Việc xác lập mô hình lấy giá trị truyền thống dẫn dắt sự tăng trưởng tại các đô thị di sản sẽ tạo ra một hệ sinh thái phát triển bền vững, nơi kinh tế và văn hóa cộng hưởng dưới sự bảo trợ của các tiêu chuẩn quốc tế. Để hiện thực hóa điều đó, nguồn đầu tư công sẽ được tập trung vào các công trình biểu tượng quốc gia ngang tầm quốc tế, tạo nên một hệ thống dịch vụ công hiện đại, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ đa dạng của mọi tầng lớp nhân dân.

Nền tảng cho sự thành công của lộ trình này chính là đội ngũ nhân sự chất lượng cao, những người có khả năng vận hành văn hóa bằng tư duy quản trị dữ liệu và công nghệ số. Chúng ta đang thiết lập một hệ thống giáo dục nghệ thuật đổi mới, nơi tri thức phổ thông được tích hợp nhuần nhuyễn với kỹ năng sáng tạo và năng lực công nghệ ngay từ bậc học sớm. Việc xây dựng mạng lưới chuyên gia quốc tế và đưa nhân tài đi đào tạo tại các quốc gia phát triển sẽ hình thành nên một thế hệ cán bộ chiến lược, đủ bản lĩnh để tham mưu và dẫn dắt các chương trình nghiên cứu trọng điểm về văn minh Việt Nam. Những nghiên cứu khoa học này sẽ là kim chỉ nam, cung cấp luận cứ vững chắc để hoàn thiện đường lối, giúp dân tộc chủ động nắm bắt các xu hướng thế giới và khẳng định vị thế văn hiến trong tương lai trường tồn.

8. Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế về văn hóa, phát huy giá trị văn hóa Việt Nam, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, góp phần gia tăng sức mạnh mềm quốc gia

Sức mạnh của một dân tộc không chỉ đo bằng tiềm lực kinh tế hay quốc phòng, mà còn ở khả năng lan tỏa các giá trị tinh thần ra ngoài biên giới. Trong định hướng chiến lược mới, văn hóa nghệ thuật không còn là yếu tố bổ trợ mà đã trở thành nội dung cốt lõi trong các hoạt động đối ngoại cấp cao, trực tiếp góp phần định vị thương hiệu quốc gia. Việc chủ động đưa những tinh túy bản sắc vào chương trình nghị sự chính thức của các nhà lãnh đạo chính là lời khẳng định về một Việt Nam tự tin, giàu bản sắc và có năng lực thích ứng mạnh mẽ trước sự cạnh tranh về tầm ảnh hưởng trong khu vực và trên thế giới.

Để hiện thực hóa điều này, chúng ta đang đẩy mạnh một tiến trình hội nhập sâu rộng, nơi các thỏa thuận về quyền tác giả và sở hữu trí tuệ trong các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới được thực thi một cách quyết liệt. Việc lồng ghép các điều khoản văn hóa vào các hiệp định kinh tế song phương và đa phương không chỉ tạo dựng hành lang pháp lý vững chắc mà còn trực tiếp tháo gỡ những rào cản, mở toang cánh cửa cho các sản phẩm sáng tạo Việt vươn ra thị trường toàn cầu. Đây chính là cách thức bền vững để gia tăng sức mạnh mềm quốc gia, biến những giá trị văn hiến lâu đời thành lợi thế cạnh tranh thực thụ, đảm bảo dân tộc luôn giữ vững bản lĩnh trong dòng chảy hội nhập của giai đoạn then chốt của đất nước.

Khát vọng nâng tầm vị thế quốc gia được cụ thể hóa bằng việc thiết lập mạng lưới các trung tâm văn hóa Việt Nam tại những địa bàn đối tác chiến lược, nơi các tùy viên văn hóa và cộng đồng người Việt ở nước ngoài đóng vai trò là những nhịp cầu kết nối di sản. Cuộc vận động khơi dậy niềm tự hào dân tộc không chỉ dừng lại ở ngôn ngữ mà còn lan tỏa qua việc hình thành những không gian thuần Việt như các khu phố, làng văn hóa hay chuỗi ẩm thực đặc sắc tại nước bạn. Đây là cách thức tiếp cận trực diện, biến mỗi công dân xa xứ thành một đại sứ, góp phần định vị hình ảnh một Việt Nam nhân văn và giàu bản sắc trong lòng bạn bè quốc tế.

Trong một thế giới phẳng, việc đăng cai các sự kiện nghệ thuật quy mô lớn và xuất khẩu các sản phẩm sáng tạo có sức cạnh tranh như điện ảnh, thời trang hay nội dung số chính là con đường ngắn nhất để chiếm lĩnh thị trường tinh thần toàn cầu. Chúng ta đang xây dựng một chiến lược truyền thông đa phương tiện, tận dụng sức ảnh hưởng của các nhà sáng tạo nội dung thế giới để lan tỏa thông điệp về một quốc gia trách nhiệm và văn minh. Đi đôi với việc đưa văn học, nghệ thuật Việt ra biển lớn là sự kiên quyết trong việc thiết lập rào cản kỹ thuật để ngăn chặn các yếu tố ngoại lai phản cảm xâm nhập. Những nỗ lực đồng bộ này không chỉ bảo vệ nền tảng tư tưởng mà còn khẳng định sự đóng góp tích cực của Việt Nam vào dòng chảy văn minh chung, tạo nên sức mạnh tổng hợp để dân tộc vững vàng trong giai đoạn then chốt của sự phát triển.

Văn Lâm