Anh Bằng là con cả trong một gia đình có bố là trưởng tộc, do vợ chồng anh chị sinh con một bề, lại toàn con gái nên phải chịu áp lực lớn của gia đình và dòng họ. Vợ anh là người phụ nữ hay lam hay làm, nhưng lại ốm yếu luôn. Thương vợ, anh bàn với chị để anh đi đình sản, vừa để giữ gìn sức khoẻ cho vợ, tránh việc có thai ngoài ý muốn; vừa tập trung chăm sóc, nuôi dạy hai con cho tốt. Đã nói là làm, anh quyết định đi đình sản.
Nghe tin anh đi đình sản, cơn bão giận dữ của gia đình bùng lên. Cả gia đình và không ít người trong dòng họ cho rằng anh vừa làm một việc dại dột - không một trưởng tộc nào lại không muốn có người nối dõi - dòng họ này vô phúc thật rồi… Họ tẩy chay vợ chồng anh và kiên quyết bắt vợ chồng anh dọn ra khỏi nhà, muốn ở đâu thì ở. Anh biết gia đình mình vốn nặng tư tưởng phong kiến, bố anh lại gia trưởng; không cưỡng lại quyết định khắt khe của bố, để tránh không khí gia đình thêm căng thẳng, anh chị đành dọn ra đầm tôm - nơi kinh doanh của gia đình để ở. Khi biết được câu chuyện của gia đình anh, Mặt trận tổ quốc, các đoàn thể trong xã, trong thôn, cùng với Tổ hoà giải đã nhiều lần thuyết phục, hoà giải song bố mẹ anh vẫn không nghe. Đến nước này, Tổ hoà giải bàn bạc: có lẽ phải nhờ cơ quan pháp luật can thiệp. Nhưng nếu làm cho mọi chuyện căng thẳng thêm thì có nên không? Anh chị và các cháu có thể trở về với mái nhà xưa nhưng cuộc sống đã chắc gì được yên ổn...

Nghĩ vậy, ông Vĩnh cùng bác Rựa, bác Cự và tổ hoà giải đã đến gặp gỡ bố mẹ anh, phân tích cho họ hiểu không sinh được con trai đâu phải là vô phúc. Việc bố mẹ gây áp lực, ép con sinh đẻ vỡ kế hoạch để rồi sức khoẻ, kinh tế giảm sút, các cháu thua thiệt, học hành dang dở chẳng phải là điều thất phúc hay sao? Có con, có cháu mà lại đuổi đi, cắt đứt mọi tình yêu thương của con dành cho cha, cháu dành cho ông bà chả lẽ lại là điều nhân nghĩa? Rồi dẫn chứng kể ra nhiều gia đình không có con trai mà họ vẫn sống đề huề, hạnh phúc. Cùng với việc thuyết phục ông bà, tổ hoà giải còn gợi ý và bố trí để hai đứa cháu thường xuyên đến thăm ông bà.
Thế rồi ngày qua ngày, sự qua lại của hai cháu bé, cùng với sự thuyết phục của hòa giải viên đã đánh thức tình thương của ông bà nội và cơn giận nguôi ngoai.
Như bao hôm khác, ông Vĩnh lại đến chơi, mục đích là tiếp tục thuyết phục cho bằng được để ông bà thay đổi quyết định đón con cháu về đoàn tụ. Ai ngờ, vừa đặt chân vào nhà chưa nói được điều gì bà cụ đã hắng giọng lên tiếng: “Bác Vĩnh đấy à! Bác đến chơi hay lại có việc gì đấy? Tôi nghĩ kỹ rồi bác ạ, người như chúng tôi vừa cổ hủ vừa lạc hậu, được các bác giảng giải mới thấy vỡ lẽ ra. Tôi đã bàn với ông ấy rồi, năm hết tết đến rồi, chiều nay sẽ bảo vợ chồng thằng cả cho các cháu về nhà cho có ông có cháu, có bố có con. Chứ mấy bữa nữa trời trở lạnh, con cháu ở ngoài đầm tôi xót lắm…”. Nghe bà cụ nói vậy, ông Vĩnh vô cùng cảm động, trong lòng lâng lâng niềm vui.
Chắc hẳn biết được tin này anh chị Bằng mừng lắm. Nghĩ là làm, ông Vĩnh hối hả đi gặp anh Bằng nhưng lạ thay, vừa gặp ông Vĩnh, anh Bằng đã nghiêm nét mặt: “Chú định bảo tôi về nhà chứ gì? Không bao giờ tôi chịu về đâu nhé! Tôi thà chết ở đây còn hơn…”. Thì ra câu chuyện giữa ông Vĩnh với ông bà trưa nay, con cháu lớn đã về khoe với bố. Gần 4 tháng sống tạm bợ trong gian nhà ngoài đầm, lòng tự ái đã khiến cho anh Bằng không chịu về nhà. Cứ tưởng rằng thay đổi được tư tưởng của bố mẹ anh Bằng là cởi được nút thắt mâu thuẫn, ai ngờ sự việc lại phức tạp đến vậy.
Không chịu đầu hàng, ông Vĩnh lại tiếp tục kiên trì giải thích cho anh Bằng hiểu. Dần dần, anh cũng tĩnh tâm và lấy lại thăng bằng.
Giờ đây, gia đình ông bà và anh chị đều vui vẻ, cả việc đình sản ngày nào cũng không ảnh hưởng gì tới hạnh phúc gia đình anh. Các cháu đều học giỏi, gia đình luôn đầy ắp tiếng cười, cả dòng tộc, họ hàng đều vị nể. Nhìn cuộc sống thanh bình ấy mới thấy ý nghĩa của công tác hoà giải cơ sở cần thiết cho cộng đồng dân cư biết nhường nào.
Thanh Hằng