“Chủ động thực thi; phát huy động lực; tăng trưởng bứt phá”
Thời gian: 18/06/2026 09:03

Luật Chuyển đổi số tạo nền tảng cho phát triển quốc gia số

Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra mạnh mẽ, chuyển đổi số không chỉ là xu thế tất yếu mà đã trở thành yêu cầu khách quan đối với quản trị quốc gia, phát triển kinh tế và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân. Việc Quốc hội ban hành Luật Chuyển đổi số năm 2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, tạo hành lang pháp lý thống nhất, đồng bộ để thúc đẩy phát triển Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số và công dân số tại Việt Nam.

Luật Chuyển đổi số đã thiết lập một khuôn khổ pháp lý toàn diện, bao quát từ nguyên tắc, chính sách, nguồn lực bảo đảm đến trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong quá trình triển khai. Trước hết, Luật xác định rõ phạm vi hoạt động chuyển đổi số với đầy đủ các nội dung từ xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện chiến lược, chương trình, kế hoạch; phát triển hạ tầng số, cơ sở dữ liệu, nền tảng số; đến số hóa quy trình, đổi mới mô hình quản trị, cung cấp dịch vụ công trực tuyến và dịch vụ số trong đời sống xã hội. Điểm nổi bật là Luật không chỉ dừng ở việc ứng dụng công nghệ mà còn nhấn mạnh yêu cầu tái cấu trúc quy trình, đổi mới phương thức lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành dựa trên dữ liệu số, qua đó tạo ra giá trị mới cho quản trị nhà nước, hoạt động sản xuất kinh doanh và phục vụ người dân. Đồng thời, Luật mở rộng không gian pháp lý cho nghiên cứu, thử nghiệm, thí điểm và cơ chế thử nghiệm có kiểm soát đối với các mô hình, giải pháp số mới, bảo đảm vừa thúc đẩy đổi mới sáng tạo vừa kiểm soát được rủi ro trong thực tiễn.

Một nội dung rất quan trọng khác là Luật quy định rõ các hành vi bị nghiêm cấm nhằm bảo đảm môi trường số an toàn, minh bạch và lành mạnh. Theo đó, các hành vi như cản trở, phá hoại hoạt động chuyển đổi số; truy cập, can thiệp trái phép vào hệ thống số và dữ liệu số; thu thập, mua bán, chia sẻ dữ liệu trái pháp luật; lợi dụng chuyển đổi số để lừa đảo, thao túng, trục lợi; tạo độc quyền, cát cứ dữ liệu, hạn chế cạnh tranh đều bị nghiêm cấm. Những quy định này có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức, doanh nghiệp và người dân trên môi trường số.

Luật cũng xác lập các nguyên tắc cốt lõi, mang tính xuyên suốt cho toàn bộ tiến trình chuyển đổi số, trong đó nổi bật là nguyên tắc lấy người sử dụng làm trung tâm, lấy dữ liệu làm trung tâm, tăng cường kết nối, chia sẻ và sử dụng lại dữ liệu, bảo đảm khai báo một lần là mặc định, đồng thời bảo đảm an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu cá nhân, tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và tính bao trùm để không ai bị bỏ lại phía sau. Đây là nền tảng tư duy quan trọng, bảo đảm chuyển đổi số không chỉ là số hóa đơn thuần mà hướng tới nâng cao chất lượng phục vụ, hiệu quả quản lý và trải nghiệm của người dân, doanh nghiệp.

Về mặt kỹ thuật và tổ chức triển khai, Luật dành dung lượng lớn để quy định về kiến trúc, thiết kế hệ thống số, tiêu chuẩn, quy chuẩn và yêu cầu tối thiểu đối với hệ thống số. Các hệ thống phải được thiết kế theo hướng mở, mô-đun, dễ mở rộng, có khả năng tích hợp, liên thông cao, sử dụng nền tảng số dùng chung, tương thích với điện toán đám mây và bảo đảm an ninh mạng ngay từ giai đoạn thiết kế. Đồng thời, hệ thống số phải đáp ứng yêu cầu về khả năng tiếp cận đối với người cao tuổi, người khuyết tật và các nhóm yếu thế. Luật cũng đặt ra yêu cầu bắt buộc về sao lưu dữ liệu, phục hồi sự cố, lưu trữ nhật ký, kết nối giao diện lập trình ứng dụng, duy trì mức độ sẵn sàng của dịch vụ số, qua đó tạo cơ sở pháp lý thống nhất cho đầu tư và vận hành hệ thống số trên phạm vi toàn quốc.

Một điểm nhấn quan trọng của Luật là xác định rõ các chính sách ưu tiên của Nhà nước về chuyển đổi số. Nhà nước tập trung phát triển hạ tầng số thống nhất, an toàn, tin cậy; thúc đẩy hình thành dữ liệu số và nền tảng số dùng chung; khuyến khích doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam; hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã, hộ kinh doanh chuyển đổi số; thu hút nhân lực chất lượng cao; phát triển công dân số và thu hẹp khoảng cách số giữa các vùng miền. Những chính sách này thể hiện rõ định hướng lấy chuyển đổi số làm động lực phát triển nhanh và bền vững đất nước trong giai đoạn mới.

Đối với trách nhiệm quản lý nhà nước, Luật quy định Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về chuyển đổi số trên phạm vi cả nước; Bộ Khoa học và Công nghệ là cơ quan đầu mối giúp Chính phủ thực hiện chức năng này. Đặc biệt, trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan nhà nước được đặt ở vị trí trung tâm, với yêu cầu trực tiếp chỉ đạo, ưu tiên nguồn lực, kiểm tra nội bộ và chịu trách nhiệm về kết quả chuyển đổi số trong phạm vi quản lý. Đây là điểm có ý nghĩa đột phá, gắn trách nhiệm cá nhân với hiệu quả triển khai thực chất.

Luật cũng dành nhiều quy định cụ thể về các điều kiện bảo đảm thực hiện, tập trung vào ba trụ cột là nguồn nhân lực số, tài chính và hạ tầng số. Theo đó, năng lực số trở thành nội dung bắt buộc trong giáo dục, đào tạo; cán bộ, công chức, viên chức và người lao động phải được bồi dưỡng thường xuyên. Về tài chính, Nhà nước bảo đảm chi tối thiểu 1% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm cho chuyển đổi số, đồng thời huy động mạnh mẽ nguồn lực xã hội hóa. Về hạ tầng, Luật quy định phát triển đồng bộ trung tâm dữ liệu, điện toán đám mây, hạ tầng kết nối máy với máy, hạ tầng định danh và xác thực điện tử, hạ tầng thanh toán số, nền tảng tích hợp và chia sẻ dữ liệu cấp quốc gia. Đây là cơ sở để hình thành hạ tầng số quốc gia hiện đại, đồng bộ và có khả năng mở rộng lâu dài.

Một nội dung có tác động trực tiếp đến người dân và doanh nghiệp là việc thúc đẩy Chính phủ số và dịch vụ công trực tuyến toàn trình. Luật xác định rõ mục tiêu xây dựng nền hành chính hoạt động toàn trình trên môi trường số, trong đó thủ tục hành chính mặc định là dịch vụ công trực tuyến toàn trình, không yêu cầu người dân cung cấp lại dữ liệu đã có, dữ liệu phải liên thông xuyên suốt giữa các cơ quan, chất lượng dịch vụ được đo lường theo thời gian thực và công khai mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp. Đây là bước tiến mạnh mẽ trong cải cách hành chính, hướng tới nền hành chính minh bạch, không giấy tờ và phục vụ tốt hơn.

Không chỉ dừng ở khu vực công, Luật còn tạo nền tảng pháp lý cho phát triển kinh tế số và xã hội số. Đối với kinh tế số, Luật xác định doanh nghiệp là trung tâm, thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh, hỗ trợ mạnh cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã, hộ kinh doanh tham gia vào môi trường số. Đối với xã hội số, Luật nhấn mạnh phát triển năng lực số toàn dân, bảo vệ trẻ em trên môi trường số, hỗ trợ người cao tuổi và người khuyết tật, thu hẹp khoảng cách số, phát triển văn hóa số và bảo đảm quyền con người, quyền công dân trên môi trường số. Những quy định này thể hiện rõ tính nhân văn, bao trùm và định hướng phát triển bền vững của Luật.

Có thể khẳng định, Luật Chuyển đổi số không chỉ là đạo luật chuyên ngành về công nghệ mà còn là đạo luật nền tảng cho phát triển quốc gia số, tạo khuôn khổ pháp lý để huy động nguồn lực, thống nhất hành động từ Trung ương đến địa phương, từ khu vực công đến khu vực tư. Việc triển khai hiệu quả Luật sẽ góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, cải thiện chất lượng phục vụ người dân và doanh nghiệp, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phát triển kinh tế số, xã hội số, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, đồng thời bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong kỷ nguyên số. Đây chính là nền tảng pháp lý vững chắc để Việt Nam bứt phá trong tiến trình xây dựng quốc gia số hiện đại, an toàn, bao trùm và phát triển bền vững.

TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ VỀ PHỔ BIẾN GIÁO DỤC PHÁP LUẬT

Cơ quan chủ quản: UBND thành phố Hải Phòng

Cơ quan quản lý: Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng

Trưởng Ban biên tập: Ngô Quang Giáp, Ủy viên Thành ủy, Giám đốc Sở Tư pháp

Thống kê truy cập: 0

Liên hệ

 Địa chỉ: Tòa nhà E, Trung tâm Chính trị - Hành chính, Khu đô thị Bắc sông Cấm, phường Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng

 Điện thoại: 0225.3846314

 Fax: 0225.3640091

 Email: sotp@haiphong.gov.vn