Ngày 28/7/2026, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ban hành Nghị quyết số 19-NQ/TW Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIV về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam. Nghị quyết xác định đổi mới mô hình phát triển là yêu cầu có tính chiến lược, nhằm tạo động lực mới cho tăng trưởng, nâng cao chất lượng cuộc sống của Nhân dân, củng cố sức mạnh quốc gia và nâng cao vị thế Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế.
Theo Nghị quyết, mục tiêu đến năm 2035 là hoàn thành cơ bản quá trình chuyển đổi sang Mô hình phát triển đất nước tự cường, sáng tạo, nhân văn, bền vững và hội nhập; hình thành đồng bộ các mô hình thành phần trên các lĩnh vực, cụ thể:
(1) Mô hình kinh tế hiệu quả cao, sáng tạo, xanh, tự chủ, bao trùm và hội nhập; chuyển mạnh từ tăng trưởng chủ yếu dựa vào vốn, lao động, tài nguyên và gia công sang tăng trưởng dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và năng suất lao động cao; nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phát triển đầy đủ, đồng bộ, hiện đại, hội nhập. Lực lượng sản xuất mới trở thành động lực chủ yếu của tăng trưởng; hoàn thiện quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp, giải phóng và phát huy hiệu quả mọi nguồn lực phát triển; doanh nghiệp Việt Nam lớn mạnh, có năng lực làm chủ công nghệ, vị trí quan trọng trong các ngành, chuỗi giá trị và hệ sinh thái phát triển hiện đại. Kinh tế xanh, kinh tế số, kinh tế dữ liệu, kinh tế tuần hoàn, kinh tế cácbon thấp và khai thác hiệu quả các không gian phát triển mới trở thành cấu trúc quan trọng đặc trưng của nền kinh tế.
(2) Mô hình phát triển xã hội hiện đại, toàn diện, bao trùm và bền vững; chuyển từ quản lý xã hội theo phương thức hành chính truyền thống và xử lý hậu quả phát sinh sang kết hợp hài hoà, hiệu quả với quản trị phát triển và kiến tạo xã hội chủ động, dựa trên dữ liệu, dự báo và phòng ngừa từ sớm, từ xa. Xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hoà, phát triển; an ninh con người được bảo đảm toàn diện; hệ thống an sinh xã hội đa dạng, đa tầng, toàn diện, hiện đại, bao trùm, bền vững, vận hành đồng bộ, hiệu quả; bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội; thị trường lao động linh hoạt, hiện đại, thích ứng với chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, già hoá dân số và biến đổi cơ cấu việc làm.
(3) Mô hình phát triển văn hoá, con người toàn diện, hiện đại, sáng tạo, giàu bản sắc và nhân văn; văn hoá là nền tảng tinh thần, nguồn lực và động lực nội sinh, năng lực sáng tạo, sức mạnh mềm cho phát triển nhanh, bền vững. Con người Việt Nam phát triển toàn diện về trí tuệ, đạo đức, thể chất, có bản lĩnh văn hoá, năng lực số, năng lực sáng tạo, ý thức thượng tôn pháp luật, kỷ luật và trách nhiệm; có lòng nhân ái, tinh thần dân tộc và khát vọng cống hiến, ý chí tự lực, tự cường; có khả năng thích ứng và hội nhập toàn cầu, năng lực làm chủ khoa học, công nghệ, kiến tạo cuộc sống hạnh phúc và tương lai tốt đẹp. Gìn giữ, phát huy và lan toả mạnh mẽ văn hoá Việt Nam trong đời sống xã hội và trên môi trường số, trở thành lợi thế trong hoạt động kinh tế, xã hội và đối ngoại.
(4) Mô hình phát triển môi trường sinh thái hiện đại, thông minh, bền vững, thích ứng; cải thiện chất lượng môi trường sống, kiểm soát hiệu quả ô nhiễm môi trường; sử dụng tiết kiệm, hiệu quả tài nguyên thiên nhiên; kinh tế - xã hội phát triển trong khả năng chịu tải của môi trường; các hệ sinh thái quan trọng được bảo vệ, phục hồi, phát triển; phòng, chống thiên tai, dịch bệnh, thích ứng với biến đổi khí hậu theo hướng chủ động, tăng cường dự báo và cảnh báo sớm, phục hồi nhanh; quản trị tài nguyên, môi trường sinh thái dựa trên nền tảng số, dữ liệu liên thông, giám sát theo thời gian thực.
(5) Mô hình quốc phòng - an ninh toàn dân, toàn diện, tự chủ, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Nâng cao năng lực bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, trên cả không gian truyền thống và các không gian, lĩnh vực mới; giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, chế độ xã hội chủ nghĩa và môi trường hoà bình, ổn định, an toàn cho phát triển. Nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, hiện đại; thế trận quốc phòng toàn dân, nền an ninh nhân dân, thế trận an ninh nhân dân gắn với thế trận lòng dân được củng cố vững chắc, hiện đại, liên hoàn từ cơ sở. Nâng cao năng lực tự chủ chiến lược, phòng thủ chủ động và công nghiệp quốc phòng, an ninh tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại có sự tham gia phù hợp của khu vực tư nhân trong nước.
(6) Mô hình đối ngoại và hội nhập quốc tế chủ động, toàn diện, hiệu quả, bản sắc và kiến tạo phát triển; chủ động mở rộng không gian phát triển, thu hút nguồn lực, tri thức, công nghệ tiên tiến, nâng cao vị thế, uy tín, sức mạnh tổng hợp và sức mạnh mềm quốc gia. Tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị, chuỗi cung ứng, mạng lưới đổi mới sáng tạo toàn cầu và có vai trò tích cực hơn trong định hình các chuẩn mực, cơ chế, khuôn khổ hợp tác quốc tế mới.
(7) Mô hình quản trị quốc gia dân chủ, hiện đại, thông minh, minh bạch, hiệu lực, hiệu quả; bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện của Đảng; Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa được hoàn thiện đồng bộ, hệ thống chính trị tinh gọn, thông suốt, hiệu lực, hiệu quả. Quản trị quốc gia chuyển từ quản lý hành chính, nặng về tiền kiểm và kiểm soát sang quản trị phát triển dựa trên pháp quyền, dữ liệu, phân cấp, phân quyền gắn với trách nhiệm giải trình, kỷ luật thực thi và kiểm soát quyền lực; nâng cao năng lực hoạch định chiến lược, điều phối phát triển, quản trị rủi ro, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và giải phóng hiệu quả các nguồn lực xã hội.
Việc triển khai hiệu quả các định hướng này sẽ tạo nền tảng để Việt Nam khai thác tốt hơn các động lực tăng trưởng mới, phát huy nguồn lực con người, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, đồng thời nâng cao khả năng thích ứng trước những biến động trong nước và quốc tế. Qua đó, góp phần xây dựng một nền kinh tế có sức cạnh tranh, một xã hội phát triển bao trùm, một môi trường sống bền vững và một quốc gia có năng lực tự chủ, vị thế và uy tín ngày càng cao trên trường quốc tế.
Thanh Hiền