Ngày 26/5/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 185/2026/NĐ-CP quy định về tổ chức, hoạt động của thôn, tổ dân phố và chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố. Nghị định có một số nội dung đáng chú ý như sau:
1. Tăng mức khoán phụ cấp lên tối đa 8 lần mức lương cơ sở
Một trong những thay đổi đáng chú ý tại Nghị định là điều chỉnh mức khoán quỹ phụ cấp đối với người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố. Khoản 1 Điều 15 Nghị định số 185/2026/NĐ-CP quy định ngân sách nhà nước thực hiện khoán quỹ phụ cấp hàng tháng (bao gồm cả hỗ trợ đóng bảo hiểm xã hội) để chi cho người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố như sau:
- Đối với thôn có từ 700 hộ gia đình trở lên; tổ dân phố có từ 1.000 hộ gia đình trở lên; thôn, tổ dân phố thuộc đơn vị hành chính cấp xã trọng điểm về quốc phòng theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền; thôn, tổ dân phố thuộc đơn vị hành chính cấp xã ở khu vực biên giới, hải đảo, thôn đặc biệt khó khăn được khoán quỹ phụ cấp bằng 8,0 lần mức lương cơ sở;
- Đối với các trường hợp còn lại, mức khoán được xác định bằng 6,5 lần mức lương cơ sở.
Hội đồng nhân dân cấp tỉnh được quyết định mức khoán cao hơn phù hợp với khả năng cân đối ngân sách địa phương.

2. Tăng điều kiện về số hộ gia đình để áp dụng mức phụ cấp cao
Theo khoản 1 Điều 15 Nghị định số 185/2026/NĐ-CP, thôn phải có từ 700 hộ gia đình trở lên, tổ dân phố phải có từ 1.000 hộ gia đình trở lên mới được áp dụng mức khoán 08 lần mức lương cơ sở (trước đây, theo quy định tại khoản 2 Điều 34 Nghị định số 33/2023/NĐ-CP ngày 10/6/2023 quy định tiêu chí tương ứng chỉ là 350 hộ gia đình đối với thôn và 500 hộ gia đình đối với tổ dân phố). Như vậy, cùng với việc tăng mức khoán, điều kiện để được hưởng mức cao cũng tăng gấp đôi so với trước đây.
3. Bổ sung yêu cầu về khả năng ứng dụng công nghệ thông tin đối với Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố
Theo quy định tại Điều 7 Nghị định số 185/2026/NĐ-CP, người đảm nhiệm chức danh này phải từ đủ 21 tuổi trở lên, có đủ sức khỏe, có uy tín trong cộng đồng dân cư, có phẩm chất đạo đức tốt, có kiến thức văn hóa, năng lực, kinh nghiệm và phương pháp vận động, tổ chức Nhân dân thực hiện tốt các công việc tự quản và không thuộc trường hợp đang bị xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự. Đồng thời, tại khoản 4 Điều 7 Nghị định số 185/2026/NĐ-CP đặt ra yêu cầu mới đối với Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố phải có khả năng ứng dụng công nghệ thông tin phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ; có khả năng lập kế hoạch, tổng hợp, thống kê, báo cáo và thực hiện nhiệm vụ theo quy định.
4. Bổ sung trách nhiệm hỗ trợ chuyển đổi số tại cộng đồng dân cư
Theo khoản 5 Điều 3 Nghị định số 185/2026/NĐ-CP, hoạt động của thôn, tổ dân phố phải tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của cộng đồng dân cư. Đồng thời, điểm e khoản 2 Điều 5 Nghị định quy định trách nhiệm hỗ trợ triển khai chuyển đổi số, hướng dẫn người dân sử dụng nền tảng số, dịch vụ công trực tuyến.
Bên cạnh đó, điểm g khoản 2 Điều 6 Nghị định quy định Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố hỗ trợ người dân tiếp cận, sử dụng nền tảng số, tiện ích số và dịch vụ công trực tuyến; người hoạt động không chuyên trách được đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng về chuyển đổi số và ứng dụng công nghệ thông tin.

5. Bổ sung chính sách đối với người nghỉ việc do sắp xếp thôn, tổ dân phố
Theo quy định tại khoản 4 Điều 16 Nghị định số 185/2026/NĐ-CP, người hoạt động không chuyên trách nghỉ việc do sắp xếp, tổ chức lại thôn, tổ dân phố được hưởng chính sách theo quy định về tinh giản biên chế của Chính phủ và quy định nội dung chuyển tiếp đối với người hoạt động không chuyên trách đang được bố trí, sắp xếp nhằm bảo đảm việc tổ chức lại bộ máy không ảnh hưởng đến hoạt động tại địa phương.
6. Quy định cụ thể thẩm quyền của Hội đồng nhân dân cấp xã trong việc thành lập, giải thể thôn, tổ dân phố
Nghị định số 185/2026/NĐ-CP bổ sung quy định cụ thể về thẩm quyền tổ chức, sắp xếp thôn, tổ dân phố theo mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Theo khoản 1 Điều 9 Nghị định số 185/2026/NĐ-CP, Hội đồng nhân dân cấp xã được quyết định việc: Thành lập thôn, tổ dân phố; Sắp xếp, tổ chức lại; Giải thể; Đặt tên, đổi tên thôn, tổ dân phố. Ở đặc khu không tổ chức cấp chính quyền địa phương thì Ủy ban nhân dân đặc khu quyết định thành lập, sắp xếp, tổ chức lại, giải thể, đặt tên, đổi tên thôn, tổ dân phố trên địa bàn; ghép cụm dân cư vào thôn, tổ dân phố hiện có.
7. Quản lý, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng và chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố
Người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố chịu sự quản lý, chỉ đạo, hướng dẫn, phân công nhiệm vụ của cấp ủy, chính quyền địa phương cấp xã và quy định của pháp luật có liên quan; được đào tạo, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ được giao; ưu tiên bồi dưỡng kỹ năng tuyên truyền, vận động Nhân dân, hòa giải ở cơ sở, tổ chức hoạt động cộng đồng dân cư; ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, sử dụng nền tảng số, cập nhật dữ liệu, khai thác cơ sở dữ liệu và hỗ trợ Nhân dân tiếp cận, sử dụng dịch vụ công trực tuyến theo quy định. Khi được cử tham gia đào tạo, bồi dưỡng thì được hưởng chế độ theo quy định của pháp luật.
Người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố được hưởng chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm y tế và các chế độ, chính sách khác theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và quy định của pháp luật hiện hành. Trường hợp nghỉ do sắp xếp, tổ chức lại thôn, tổ dân phố được hưởng chế độ, chính sách theo quy định của Chính phủ về tinh giản biên chế. Căn cứ điều kiện thực tế của địa phương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định cụ thể về tiêu chuẩn, nhiệm vụ và việc quản lý, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng đối với người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố và người tham gia hoạt động ở thôn, tổ dân phố.