Kết luận số 09-KL/TW ngày 10/3/2026 của Bộ Chính trị về tái cấu trúc hệ thống pháp luật đã đặt ra một định hướng lớn, mang tầm chiến lược nhằm tiếp tục hoàn thiện thể chế, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện đại, hiệu lực, hiệu quả. Đây không chỉ là yêu cầu khách quan từ thực tiễn phát triển mà còn là bước đi quan trọng để tháo gỡ những điểm nghẽn về thể chế, tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế sâu rộng.

Yêu cầu cấp thiết từ thực tiễn phát triển
Qua gần 40 năm đổi mới, hệ thống pháp luật nước ta từng bước được xây dựng và hoàn thiện tương đối toàn diện, bao quát hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội. Các đạo luật quan trọng được ban hành đã góp phần thể chế hóa kịp thời chủ trương, đường lối của Đảng, tạo nền tảng pháp lý cho phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, giữ vững trật tự an toàn xã hội và mở rộng quyền làm chủ của Nhân dân.
Tuy nhiên, trước yêu cầu phát triển trong bối cảnh mới, nhiều quy định pháp luật đã bộc lộ những bất cập. Một số văn bản còn chồng chéo, mâu thuẫn, thiếu thống nhất; có quy định chưa theo kịp thực tiễn phát triển của các mô hình kinh tế mới, công nghệ mới và phương thức quản trị hiện đại. Tình trạng “điểm nghẽn thể chế” ở một số lĩnh vực đầu tư, đất đai, tài chính, chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo… đã ảnh hưởng trực tiếp đến việc huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực phát triển.
Chính vì vậy, việc tái cấu trúc hệ thống pháp luật được xác định là nhiệm vụ cấp bách, đòi hỏi phải có tư duy đổi mới toàn diện, cách làm bài bản và quyết tâm chính trị cao của cả hệ thống chính trị.
Không chỉ sửa luật, mà là tái cấu trúc tư duy xây dựng pháp luật
Điểm cốt lõi của chủ trương lần này không dừng ở việc sửa đổi một số luật riêng lẻ, mà hướng tới sắp xếp lại tổng thể hệ thống pháp luật theo hướng khoa học, liên thông, ổn định và lấy hiệu quả thực thi làm thước đo. Đây là bước chuyển từ tư duy xây dựng pháp luật theo từng lĩnh vực độc lập sang tư duy hệ thống, bảo đảm tính thống nhất giữa các ngành luật, giữa pháp luật trung ương với cơ chế tổ chức thực hiện ở địa phương.
Tái cấu trúc hệ thống pháp luật đồng nghĩa với việc rà soát lại toàn bộ các quy định hiện hành, kịp thời loại bỏ những quy định không còn phù hợp, bổ sung các khoảng trống pháp lý mới phát sinh, nhất là trong các lĩnh vực kinh tế số, dữ liệu, trí tuệ nhân tạo, kinh tế xanh, tài chính xanh, thương mại điện tử, dịch vụ công trực tuyến và mô hình quản trị đô thị thông minh.
Tinh thần xuyên suốt là lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ, xây dựng pháp luật phải xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn và hướng tới tháo gỡ khó khăn cho phát triển, thay vì tạo thêm thủ tục hay rào cản hành chính.
Một nội dung rất quan trọng được nhấn mạnh trong Kết luận số 09 là yêu cầu đổi mới toàn diện quy trình xây dựng pháp luật. Theo đó, việc xây dựng chính sách phải đi trước một bước, nâng cao chất lượng đánh giá tác động, dự báo xu hướng phát triển và tổ chức phản biện xã hội sâu rộng ngay từ giai đoạn đầu.
Mỗi dự án luật, nghị định, văn bản quy phạm pháp luật phải được chuẩn bị kỹ lưỡng, bảo đảm tính ổn định, khả thi và có “tuổi thọ” dài hơn. Đồng thời, cần khắc phục tình trạng luật khung, luật ống, chậm ban hành văn bản hướng dẫn, gây khó khăn trong quá trình tổ chức thực hiện.
Cùng với đó, tái cấu trúc hệ thống pháp luật phải gắn chặt với nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong tổ chức thực hiện, tăng cường kiểm tra, giám sát, kịp thời phát hiện những quy định không phù hợp để sửa đổi, bổ sung.
Vai trò nòng cốt của ngành Tư pháp trong tham mưu thể chế
Để hiện thực hóa chủ trương lớn này, ngành Tư pháp giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong tham mưu chiến lược về xây dựng và hoàn thiện thể chế. Đội ngũ cán bộ làm công tác pháp luật cần tiếp tục nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ chuyên môn, năng lực dự báo và khả năng tham mưu chính sách, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của công tác xây dựng pháp luật trong giai đoạn mới.
Đối với địa phương, nhất là các sở, ngành, đơn vị tham mưu trực tiếp cho Ủy ban nhân dân các cấp, việc quán triệt và triển khai hiệu quả Kết luận số 09 sẽ góp phần nâng cao chất lượng ban hành văn bản quy phạm pháp luật, bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, đồng bộ và phù hợp với thực tiễn quản lý nhà nước tại cơ sở.
Có thể khẳng định, tái cấu trúc hệ thống pháp luật là một trong những giải pháp mang tính đột phá để hoàn thiện thể chế phát triển. Khi các “điểm nghẽn” pháp lý được tháo gỡ, nguồn lực xã hội sẽ được giải phóng mạnh mẽ hơn, môi trường đầu tư kinh doanh tiếp tục được cải thiện, niềm tin của người dân và doanh nghiệp đối với bộ máy nhà nước được củng cố.
Đây cũng là tiền đề quan trọng để Việt Nam tận dụng tốt các cơ hội từ cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số toàn diện, phát triển kinh tế xanh và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Với ý nghĩa đó, việc triển khai hiệu quả Kết luận số 09 không chỉ là nhiệm vụ của các cơ quan xây dựng pháp luật mà là trách nhiệm chung của toàn hệ thống chính trị, góp phần xây dựng nền pháp luật hiện đại, minh bạch, ổn định và kiến tạo phát triển, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.