Để đưa thể chế thực sự trở thành động lực và lợi thế cạnh tranh trong phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, cần tập trung thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:
Thứ nhất, tiếp tục thể chế hóa đầy đủ, triển khai hiệu quả các chủ trương của Đảng.
Quán triệt và tổ chức thực hiện nghiêm túc các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư về phát triển giáo dục - đào tạo, khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia; bảo đảm các quan điểm, định hướng lớn được cụ thể hóa kịp thời thành cơ chế, chính sách và quy định pháp luật phù hợp với thực tiễn.
Thứ hai, khẩn trương sửa đổi, hoàn thiện đồng bộ hệ thống pháp luật, tháo gỡ điểm nghẽn.
Rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật liên quan đến khoa học và công nghệ, đầu tư, đầu tư công, mua sắm công, ngân sách nhà nước, tài sản công, sở hữu trí tuệ, thuế… theo hướng thông thoáng, minh bạch, tạo điều kiện giải phóng nguồn lực, khuyến khích nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Đẩy mạnh cải cách phương thức quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ phù hợp với từng loại hình nghiên cứu; đổi mới cơ chế quản lý tài chính, đơn giản hóa tối đa thủ tục hành chính; giao quyền tự chủ thực chất trong sử dụng kinh phí nghiên cứu và phát triển công nghệ.
Thứ ba, áp dụng cách tiếp cận mở, chấp nhận thí điểm và rủi ro có kiểm soát.
Cho phép thí điểm đối với các vấn đề mới phát sinh từ thực tiễn; chấp nhận rủi ro, đầu tư mạo hiểm và độ trễ trong nghiên cứu, phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo.
Xây dựng cơ chế thử nghiệm công nghệ mới, mô hình kinh doanh mới có sự giám sát của Nhà nước; có chính sách miễn trừ trách nhiệm trong trường hợp rủi ro khách quan khi thử nghiệm. Đồng thời, hình thành và phát triển các quỹ đầu tư mạo hiểm phục vụ khởi nghiệp sáng tạo, ươm tạo công nghệ và chuyển đổi số.
Thứ tư, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và phát triển các chủ thể nghiên cứu mạnh.
Thống nhất, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Phát triển các viện nghiên cứu, trường đại học trở thành trung tâm nghiên cứu mạnh, gắn kết chặt chẽ giữa nghiên cứu - ứng dụng - đào tạo.
Tập trung đầu tư, nâng cấp các tổ chức nghiên cứu trọng điểm như Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam và Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam; đồng thời sắp xếp, sáp nhập, giải thể các tổ chức hoạt động kém hiệu quả.
Thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tổ chức, nhân sự, tài chính, chuyên môn đối với các tổ chức khoa học và công nghệ công lập; cho phép sử dụng ngân sách thuê chuyên gia, khai thác tài sản hữu hình và trí tuệ để hợp tác với doanh nghiệp. Khuyến khích nhà khoa học thành lập, tham gia điều hành doanh nghiệp dựa trên kết quả nghiên cứu.
Thứ năm, huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực đầu tư.
Ưu tiên chi ngân sách cho nghiên cứu, phát triển khoa học và công nghệ theo cơ chế quỹ; cơ cấu lại nguồn chi bảo đảm tập trung, có trọng tâm, trọng điểm, tránh dàn trải.
Xây dựng cơ chế khuyến khích mua sắm công đối với sản phẩm, hàng hóa là kết quả nghiên cứu trong nước; có chính sách đặc thù để tiếp cận, mua, học hỏi, chuyển giao, làm chủ các công nghệ tiên tiến của nước ngoài.
Việc hoàn thiện thể chế theo hướng đồng bộ, minh bạch, linh hoạt và đột phá sẽ tạo môi trường pháp lý thuận lợi, khơi thông nguồn lực xã hội, thúc đẩy mạnh mẽ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong giai đoạn phát triển mới.