“Chủ động thực thi; phát huy động lực; tăng trưởng bứt phá”
Thời gian: 09/10/2025 08:35

Xử ly hôn vắng mặt

 

Chị T và anh B cùng cư trú tại thành phố HP. Hai người kết hôn vào năm 2019 trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã H, huyện N, thành phố HP. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống với nhau tại nhà bố mẹ đẻ anh B tại thôn P, xã H, huyện N, thành phố HP được khoảng 03 tháng thì vợ chồng chuyển về sinh sống tại 2 phường Ea Tam, thành phố M, tỉnh Đăk Lắk được 05 tháng. Tháng 12/2020, vợ chồng lại chuyển về sinh sống tại nhà bố mẹ anh B tại thôn P, xã H, huyện N, thành phố HP. Trong thời gian sinh sống tại xã H, huyện N, thành phố HP, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình vợ chồng không hoà hợp, bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Mâu thuẫn vợ chồng đã được gia đình hoà giải nhưng không thành.

Năm 2021, anh B có hành vi vi phạm pháp luật cho vay nặng lãi bị Toà án nhân dân thành phố M, tỉnh Đăk Lắk xử phạt 01 năm tù về tội Cho vay lãi nặng và phải đi chấp hành án. Tháng 3/ 2022, anh B chấp hành án xong, vợ chồng quay về chung sống nhưng lại xảy ra mâu thuẫn nên vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 12/2022 đến nay. Chị T khẳng định tình cảm vợ chồng không còn, nên yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh Bùi Văn Thịnh.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên C sinh năm 2020. Hiện nay chị T đang trực tiếp nuôi con và từ khi vợ chồng sống ly thân nhau đến nay cháu C vẫn ở với chị. Khi ly hôn, chị T yêu cầu Toà án giao con chung cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Chị T không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Vợ chồng không tài sản chung nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

Bị đơn là anh B đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, giấy triệu tập, thông báo về phiên họp kiểm tra việ việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Tòa án đã triệu tập hợp lệ lần thứ hai để anh B có mặt tại phiên tòa nhưng anh B vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do, không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là chị T.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân thành phố N, thành phố HP phát biểu ý kiến: Nguyên đơn là chị T đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn là anh B không chấp hành quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Tòa án nhân dân chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Ngát cho chị T được ly hôn anh Bùi Văn Thịnh và giao con chung tên C cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được xem xét tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; xử cho chị T được ly hôn anh B.

Về con chung: Giao con chung tên C cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi theo quy định của pháp luật. Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Chị T không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ VỀ PHỔ BIẾN GIÁO DỤC PHÁP LUẬT

Cơ quan chủ quản: UBND thành phố Hải Phòng

Cơ quan quản lý: Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng

Trưởng Ban biên tập: Ngô Quang Giáp, Ủy viên Thành ủy, Giám đốc Sở Tư pháp

Thống kê truy cập: 0

Liên hệ

 Địa chỉ: Tòa nhà E, Trung tâm Chính trị - Hành chính, Khu đô thị Bắc sông Cấm, phường Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng

 Điện thoại: 0225.3846314

 Fax: 0225.3640091

 Email: sotp@haiphong.gov.vn