“Chủ động thực thi; phát huy động lực; tăng trưởng bứt phá”
Thời gian: 16/03/2026 09:12

Luật Công nghiệp công nghệ số: Hành lang pháp lý cho doanh nghiệp Việt hội nhập

Luật Công nghiệp công nghệ số không chỉ thiết lập hành lang pháp lý đầu tiên cho sự phát triển ngành công nghiệp công nghệ số trong nước mà còn mở ra khuôn khổ hợp tác quốc tế toàn diện.

Luật Công nghiệp công nghệ số (Luật số 71/2025/QH15) ra đời khi thương mại và đầu tư quốc tế trong lĩnh vực công nghệ số ngày càng chiếm tỷ trọng lớn. Có hiệu lực thi hành từ 01/01/2026, Luật Công nghiệp công nghệ số dành riêng Điều 6 để thiết lập định hướng hợp tác quốc tế nhằm thu hút nguồn lực bên ngoài, tạo điều kiện cho doanh nghiệp trong nước mở rộng thị trường và tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Thúc đẩy liên kết giữa doanh nghiệp Việt Nam và doanh nghiệp nước ngoài

Một trong những điểm nhấn quan trọng quy định trong Luật là việc Nhà nước đẩy mạnh ký kết, gia nhập các điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế và tham gia tổ chức, hiệp hội nước ngoài trong lĩnh vực công nghiệp công nghệ số. Quy định này giúp cơ quan quản lý, tổ chức và doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận chuẩn mực, kinh nghiệm và dữ liệu từ những thị trường phát triển. Cùng với đó là việc hình thành mạng lưới đại diện công nghiệp công nghệ số Việt Nam ở nước ngoài, đóng vai trò đầu mối tại cơ quan ngoại giao, thương vụ hoặc văn phòng đại diện, hỗ trợ doanh nghiệp kết nối đối tác, xúc tiến thương mại, khảo sát thị trường và tìm kiếm cơ hội đầu tư.

Luật cũng đặt ra cơ chế hỗ trợ phát triển thị trường công nghệ số Việt Nam ở nước ngoài thông qua các hoạt động đào tạo, tư vấn, nghiên cứu - phát triển, hội nghị, hội thảo và xúc tiến thương mại quốc tế. Trên cơ sở các thỏa thuận song phương và đa phương, Nhà nước có thể triển khai chương trình hợp tác dài hạn, qua đó tạo ra các kênh liên kết bền vững giữa doanh nghiệp Việt Nam và doanh nghiệp đối tác. Bên cạnh đó, Luật khẳng định chuyển giao công nghệ số sẽ diễn ra theo hai chiều: từ nước ngoài vào Việt Nam và từ Việt Nam ra thế giới, mở đường cho mua bán, nhượng quyền, hợp tác phát triển sản phẩm, đồng thời thúc đẩy sự hiện diện của các giải pháp “Make in Vietnam” trên thị trường quốc tế.

Với lĩnh vực bán dẫn - ngành công nghiệp được nhiều quốc gia coi là trụ cột chiến lược - Luật Công nghiệp công nghệ số dành quy định riêng, nhấn mạnh việc chủ động kết nối với hệ sinh thái bán dẫn của các đối tác chiến lược, thúc đẩy liên doanh giữa doanh nghiệp Việt Nam và nhà đầu tư nước ngoài, cũng như khuyến khích hợp tác nghiên cứu, thiết kế, sản xuất và thương mại hóa sản phẩm bán dẫn. Đây là bước đi nhằm rút ngắn thời gian xây dựng năng lực trong nước và tận dụng công nghệ tiên tiến từ các trung tâm bán dẫn lớn trên thế giới.

Phát triển công nghiệp công nghệ số

“Công nghiệp công nghệ số” được Luật CNCNS định nghĩa là ngành kinh tế - kỹ thuật dựa trên sự kết hợp của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số nhằm tạo ra các sản phẩm, dịch vụ CNS; là bước phát triển tiếp theo của công nghiệp công nghệ thông tin.

Để phát triển ngành CNCNS còn rất non trẻ ở Việt Nam, Luật CNCNS xác định rõ các đối tượng được hưởng chính sách ưu đãi, hỗ trợ, cụ thể như sau:

Các hoạt động sản xuất sản phẩm, cung cấp dịch vụ CNS được xác định thuộc ngành, nghề ưu đãi đầu tư, và được hưởng các ưu đãi, hỗ trợ tương ứng theo quy định của pháp luật về đầu tư, thuế, đất đai và pháp luật khác có liên quan.

Các hoạt động sản xuất sản phẩm, cung cấp dịch vụ CNS trọng điểm; sản xuất sản phẩm phần mềm; phát triển hệ thống trí tuệ nhân tạo; nghiên cứu và phát triển, thiết kế, sản xuất, đóng gói, kiểm thử sản phẩm chip bán dẫn; đầu tư xây dựng trung tâm dữ liệu trí tuệ nhân tạo được xác định thuộc ngành, nghề đặc biệt ưu đãi đầu tư, và được hưởng các ưu đãi, hỗ trợ tương ứng theo quy định của pháp luật về đầu tư, thuế, đất đai và pháp luật khác có liên quan.

Các dự án sản xuất sản phẩm CNS trọng điểm; dự án nghiên cứu và phát triển, thiết kế, sản xuất, đóng gói, kiểm thử sản phẩm chip bán dẫn; dự án xây dựng trung tâm dữ liệu trí tuệ nhân tạo có quy mô đầu tư lớn thuộc đối tượng dự án ưu đãi, hỗ trợ đầu tư đặc biệt theo quy định tại Luật Đầu tư, thì được hưởng ưu đãi theo quy định của pháp luật về thuế TNDN; đất đai và pháp luật khác có liên quan.

Các dự án sản xuất sản phẩm CNS trọng điểm; dự án nghiên cứu và phát triển, thiết kế, sản xuất, đóng gói, kiểm thử sản phẩm chip bán dẫn; dự án xây dựng trung tâm dữ liệu trí tuệ nhân tạo được Nhà nước hỗ trợ trực tiếp chi phí đầu tư xây dựng nhà máy, hạ tầng kỹ thuật, trang thiết bị máy móc từ nguồn chi đầu tư phát triển từ ngân sách địa phương theo quy định của pháp luật về ngân sách Nhà nước và các quy định pháp luật khác có liên quan.

Các doanh nghiệp thực hiện dự án sản xuất sản phẩm CNS trọng điểm, dự án nghiên cứu và phát triển, thiết kế, sản xuất, đóng gói, kiểm thử sản phẩm chip bán dẫn, dự án xây dựng trung tâm dữ liệu trí tuệ nhân tạo được hưởng chế độ ưu tiên theo quy định của pháp luật về hải quan.

Hỗ trợ, ưu đãi dự án khởi nghiệp sáng tạo trong công nghiệp công nghệ số

Các dự án khởi nghiệp sáng tạo trong CNCNS được xác định thuộc ngành, nghề đặc biệt ưu đãi đầu tư, nhờ đó các dự án này:

 Được hưởng các ưu đãi, hỗ trợ tương ứng theo quy định của pháp luật về đầu tư, thuế, đất đai và pháp luật khác có liên quan.

Được hỗ trợ kinh phí trực tiếp từ ngân sách địa phương theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước hoặc từ Chương trình phát triển CNCNS cho các hoạt động bao gồm: (i) Đào tạo phát triển nguồn nhân lực CNCNS; (ii) Thu hút nguồn nhân lực CNCNS chất lượng cao, nhân tài CNS; (iii) Nghiên cứu và phát triển; sản xuất thử nghiệm; (iv) Tư vấn khởi nghiệp; (v) Mua công nghệ và đổi mới công nghệ.

Ưu tiên đầu tư hạ tầng công nghệ số

Các hoạt động đầu tư xây dựng hạ tầng CNCNS được xác định thuộc ngành, nghề đặc biệt ưu đãi đầu tư, nhờ đó các dự án này:

Được hưởng các ưu đãi, hỗ trợ theo quy định của pháp luật về đầu tư, thuế, đất đai và pháp luật khác có liên quan.

Được Nhà nước ưu tiên bố trí nguồn vốn ngân sách để đầu tư xây dựng các loại hạ tầng CNS thiết yếu, dùng chung; bao gồm: (i) Cơ sở nghiên cứu, thiết kế, sản xuất thử nghiệm sản phẩm, dịch vụ CNS; (ii) Phòng thí nghiệm trọng điểm dùng chung quốc gia về CNS; (iii) Cơ sở đo kiểm, thử nghiệm, đánh giá sản phẩm, dịch vụ CNS; (iv) Trung tâm dữ liệu; (v) Khu công nghệ số tập trung (“KCNSTT”); (vi) Hạ tầng công nghiệp CNS thiết yếu, dùng chung khác.

Ưu đãi đối với khu công nghệ số tập trung

“Khu công nghệ số tập trung” được Luật CNCNS định nghĩa là khu chức năng, tập trung các hoạt động nghiên cứu và phát triển, hỗ trợ, đào tạo, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, ươm tạo CNS và doanh nghiệp CNS (là doanh nghiệp sản xuất sản phẩm CNS, cung cấp dịch vụ CNS), sản xuất và kinh doanh sản phẩm, dịch vụ CNS, cung cấp hạ tầng, cung ứng dịch vụ cho các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân và các hoạt động khác trong khu. KCNSTT được áp dụng chính sách ưu đãi đầu tư đối với địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của pháp luật về đầu tư và pháp luật khác có liên quan.

Các dự án đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng KCNSTT, dự án đầu tư về lĩnh vực CNCNS trong KCNSTT được xác định thuộc ngành, nghề đặc biệt ưu đãi đầu tư, nhờ đó các dự án này được áp dụng chính sách ưu đãi đầu tư đối với ngành, nghề đặc biệt ưu đãi đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư và pháp luật khác có liên quan; và nếu sử dụng đất tại KCNSTT thì được miễn, giảm tiền thuê đất theo quy định pháp luật về đất đai và phát luật khác có liên quan.

Nhà đầu tư thực hiện dự án đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng KCNSTT có thể được Nhà nước hỗ trợ: (i) Đầu tư hệ thống hạ tầng kỹ thuật bên trong khu và các hạ tầng kết nối đến khu gồm đường giao thông, điện, nước sạch, cấp nước, thoát nước, thu gom và xử lý nước thải, chất thải rắn và công trình khác; (ii) Tổ chức hệ thống giao thông vận chuyển hành khách công cộng đến KCNSTT.

Dự án đầu tư xây dựng nhà ở, công trình dịch vụ, tiện ích công cộng cho người lao động làm việc trong KCSTT được hưởng ưu đãi theo quy định của pháp luật về nhà ở; kinh doanh bất động sản và pháp luật khác có liên quan.

Ưu đãi về thủ tục hành chính và hải quan

 Doanh nghiệp thực hiện dự án sản xuất sản phẩm CNS trọng điểm, dự án nghiên cứu và phát triển, thiết kế, sản xuất, đóng gói, kiểm thử sản phẩm chip bán dẫn, dự án xây dựng trung tâm dữ liệu trí tuệ nhân tạo; và doanh nghiệp thực hiện dự án sản xuất sản phẩm phụ trợ trực tiếp trong công nghiệp bán dẫn (là dự án sản xuất nguyên liệu, vật tư, linh kiện để cung cấp trực tiếp cho dự án sản xuất, đóng gói, kiểm thử sản phẩm chip bán dẫn), được hưởng chế độ ưu tiên theo quy định của pháp luật về hải quan.

Ưu đãi đối với nhân lực công nghệ số

Luật CNCNS định nghĩa “Nhân lực công nghiệp CNS” là người có trình độ, kỹ năng, kiến thức chuyên môn CNS tham gia hoạt động sản xuất sản phẩm CNS, cung cấp dịch vụ CNS, quản lý hoạt động CNCNS; và quy định:

Đối với nhân lực CNCNS nói chung, Nhà nước có: (i) chính sách tín dụng ưu đãi về lãi suất, điều kiện và thời hạn vay tiền; và (ii) chính sách cấp học bổng, trợ cấp xã hội; miễn, giảm học phí; hỗ trợ tiền học phí và chi phí sinh hoạt cho người học ngành đào tạo về CNS theo quy định của pháp luật về giáo dục, tài chính; cũng như hỗ trợ đầu tư cơ sở vật chất bao gồm thiết bị đào tạo, phòng thí nghiệm, bản quyền phần mềm, nền tảng số dùng chung và công cụ kỹ thuật cần thiết khác phục vụ đào tạo nhân lực CNCNS.

Đối với nhân lực CNCNS chất lượng cao là người Việt Nam, người Việt Nam ở nước ngoài, người nước ngoài đáp ứng tiêu chí theo quy định của Chính phủ, các khoản thu nhập từ tiền lương, tiền công được miễn thuế thu nhập cá nhân trong thời hạn 05 năm kể từ ngày ký hợp đồng đầu tiên với cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam thuộc các trường hợp sau: (i) Thu nhập từ dự án hoạt động CNCNS trong KCNSTT; (ii) Thu nhập từ dự án nghiên cứu và phát triển, sản xuất sản phẩm CNS trọng điểm, chip bán dẫn, hệ thống trí tuệ nhân tạo; (iii) Thu nhập từ các hoạt động đào tạo nhân lực CNCNS. Nhân lực CNS chất lượng cao là người nước ngoài không thuộc diện cấp giấy phép lao động; và được cấp thẻ tạm trú có thời hạn 05 năm và được gia hạn theo quy định pháp luật về nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam. Vợ hoặc chồng, con dưới 18 tuổi của nhân lực CNCNS chất lượng cao là người nước ngoài được cấp thẻ tạm trú với thời hạn tương ứng với thời hạn cấp cho nhân lực CNCNS chất lượng cao; được chính quyền địa phương và các cơ quan chức năng tạo điều kiện, hỗ trợ về thủ tục khi tìm kiếm việc làm và tuyển sinh, học tập tại các cơ sở giáo dục tại Việt Nam.

Đối với nhân lực CNCNS chất lượng cao đáp ứng tiêu chí nhân tài trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo theo quy định của pháp luật về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, được hưởng: (i) các ưu đãi đối với nhân lực CNCNS chất lượng cao quy định ở trên; (ii) cơ chế đặc biệt về lương, thưởng cạnh tranh với mức lương, thưởng trên thế giới; được ưu tiên tuyển dụng, sử dụng, bổ nhiệm theo quy định pháp luật về cán bộ, công chức; viên chức; (iii) hỗ trợ về môi trường làm việc, không gian sống, nhà ở, phương tiện đi lại; (iv) hỗ trợ tham gia hoạt động hợp tác quốc tế về CNCNS; (v) hỗ trợ tài chính và cơ sở vật chất cho nghiên cứu và phát triển trong lĩnh vực CNS; (vi) được tôn vinh, khen thưởng theo quy định của pháp luật về thi đua, khen thưởng.

TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ VỀ PHỔ BIẾN GIÁO DỤC PHÁP LUẬT

Cơ quan chủ quản: UBND thành phố Hải Phòng

Cơ quan quản lý: Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng

Trưởng Ban biên tập: Ngô Quang Giáp, Ủy viên Thành ủy, Giám đốc Sở Tư pháp

Liên hệ

 Địa chỉ: Tòa nhà E, Trung tâm Chính trị - Hành chính, Khu đô thị Bắc sông Cấm, phường Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng

 Điện thoại: 0225.3846314

 Fax: 0225.3640091

 Email: sotp@haiphong.gov.vn