Doanh nghiệp chủ động triển khai hợp đồng lao động điện tử theo quy định mới
Trước yêu cầu đẩy mạnh số hóa trong quản trị nhân sự và quan hệ lao động, các quy định mới về hợp đồng lao động điện tử đang tạo hành lang pháp lý để doanh nghiệp từng bước chuyển từ phương thức giao kết, lưu trữ hợp đồng truyền thống sang môi trường số.
Cơ sở pháp lý cho việc triển khai gồm Nghị định số 337/2025/NĐ-CP ngày 24/12/2025 của Chính phủ quy định về hợp đồng lao động điện tử, Thông tư số 08/2026/TT-BNV ngày 15/5/2026 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 337/2025/NĐ-CP ngày 24/12/ 2025 của Chính phủ quy định về hợp đồng lao động điện tử cùng các quyết định quy định về Kiến trúc, Quy chế hoạt động và Tài liệu hướng dẫn kết nối Nền tảng hợp đồng lao động điện tử.
Hợp đồng lao động điện tử tạo thuận lợi cho doanh nghiệp trong quản trị lao động
Khoản 1 Điều 1 Nghị định số 337/2025/NĐ-CP quy định: Hợp đồng lao động điện tử là hợp đồng lao động được giao kết, thiết lập dưới dạng thông điệp dữ liệu theo quy định của pháp luật về lao động và pháp luật về giao dịch điện tử, có giá trị pháp lý như hợp đồng lao động bằng văn bản giấy.
Việc áp dụng hợp đồng lao động điện tử được thực hiện trên tinh thần khuyến khích, không bắt buộc. Đối với doanh nghiệp, hình thức này giúp linh hoạt hơn trong quá trình tuyển dụng, giao kết và quản lý quan hệ lao động; đồng thời giảm thời gian, chi phí liên quan đến in ấn, ký kết và lưu trữ hồ sơ giấy.
Dữ liệu hợp đồng lao động điện tử có thể được kết nối, chia sẻ với các cơ quan quản lý nhà nước như cơ quan Thuế, Bảo hiểm xã hội, Ngân hàng và cơ quan quản lý lao động, qua đó hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện thủ tục hành chính, xác minh thu nhập, đăng ký bảo hiểm và khai trình, báo cáo về sử dụng lao động.
Cùng với thuận lợi về quản trị, doanh nghiệp phải bảo đảm trách nhiệm bảo vệ dữ liệu của người lao động và người dự tuyển. Việc thu thập thông tin phải phục vụ mục đích tuyển dụng, quản lý và được sự đồng ý của người lao động; dữ liệu phải được xóa hoặc hủy khi hợp đồng chấm dứt hoặc người dự tuyển không trúng tuyển, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Các hành vi mua bán, làm lộ hoặc xử lý dữ liệu trái quy định có thể bị xử lý nghiêm, với mức phạt tiền lên tới 5% tổng doanh thu hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định.
Điều kiện để hợp đồng lao động điện tử có giá trị pháp lý
Để bảo đảm an toàn dữ liệu và tính pháp lý trong giao kết, doanh nghiệp và người lao động tuân thủ các điều kiện chặt chẽ về định danh, chữ ký số và hạ tầng công nghệ.
Các bên tham gia giao kết phải sử dụng giấy tờ tùy thân, giấy tờ pháp lý phù hợp như thẻ Căn cước, Căn cước điện tử, tài khoản VNeID mức độ 2, Hộ chiếu hoặc giấy tờ pháp lý thành lập doanh nghiệp. Đồng thời, các bên phải sử dụng chữ ký số và dịch vụ cấp dấu thời gian theo quy định.
Đối với doanh nghiệp cung cấp giải pháp eContract, đơn vị cung cấp dịch vụ phải có Giấy phép kinh doanh dịch vụ tin cậy theo quy định.
Hệ thống eContract phải đáp ứng yêu cầu về định danh, xác thực, trong đó có khả năng xác thực sinh trắc học như vân tay, khuôn mặt, mống mắt đúng với giấy tờ tùy thân; bảo đảm an toàn thông tin, tính toàn vẹn của chứng từ và khả năng tích hợp thông qua cổng kết nối API với Nền tảng Hợp đồng lao động điện tử của Bộ Nội vụ.
Hợp đồng lao động điện tử có hiệu lực kể từ thời điểm bên sau cùng hoàn tất ký số, có dấu thời gian và được nhà cung cấp eContract chứng thực, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.
Quy định cũng đặt ra yêu cầu đối với việc chuyển đổi giữa hợp đồng lao động bằng văn bản giấy và hợp đồng lao động điện tử nhằm bảo đảm thông tin sau chuyển đổi được đầy đủ, toàn vẹn, có ký hiệu xác nhận chuyển đổi và chữ ký số xác thực của người có thẩm quyền.
Dữ liệu hợp đồng lao động điện tử được lưu trữ tập trung trong 10 năm
Nền tảng hợp đồng lao động điện tử do Bộ Nội vụ trực tiếp xây dựng, vận hành và quản lý tập trung, thực hiện lưu trữ dữ liệu, cung cấp các dịch vụ dùng chung và cấp mã định danh (ID) duy nhất cho từng hợp đồng lao động điện tử trên phạm vi toàn quốc.
Mỗi hợp đồng lao động điện tử được cấp một mã định danh riêng. Đây là cơ sở để quản lý, khai thác và kết nối dữ liệu hợp đồng trên phạm vi toàn quốc.
Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi hợp đồng được ký kết và chứng thực thành công, nhà cung cấp dịch vụ có trách nhiệm gửi dữ liệu hợp đồng lao động điện tử lên Nền tảng hợp đồng lao động điện tử để gắn mã ID. Mã định danh này được duy trì trong suốt vòng đời của hợp đồng.
Thời hạn lưu trữ dữ liệu về hợp đồng lao động điện tử, phụ lục hợp đồng lao động điện tử và các văn bản điện tử khác liên quan trên Nền tảng hợp đồng lao động điện tử là 10 năm kể từ ngày hợp đồng lao động chấm dứt. Trường hợp người sử dụng lao động và người lao động giao kết nhiều hợp đồng lao động liên tục theo quy định tại Điều 20 Bộ luật Lao động năm 2019 thì thời hạn 10 năm được tính từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động cuối cùng.
Doanh nghiệp và người lao động có thể đăng ký tài khoản trên Nền tảng hợp đồng lao động điện tử để tra cứu, quản lý và khai thác dữ liệu hợp đồng, phục vụ các giao dịch cũng như thủ tục hành chính khi có nhu cầu.
Việc triển khai hợp đồng lao động điện tử từ ngày 01/7/2026 tạo thêm phương thức giao kết, quản lý quan hệ lao động phù hợp với môi trường số. Đối với doanh nghiệp, đây cũng là cơ hội chuẩn hóa quy trình quản trị nhân sự, giảm chi phí hành chính, nâng cao khả năng khai thác dữ liệu và từng bước xây dựng phương thức quản lý lao động hiện đại, minh bạch, hiệu quả.
Duy Khánh
Những điểm mới về kinh doanh tạm nhập, tái xuất
Ngày 22/7/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 292/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Quản lý ngoại thương (sau đây viết tắt là Nghị định), có hiệu lực thi hành từ ngày 05/9/2026; thay thế Nghị định số 69/2018/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý ngoại thương.
Theo đó, Điều 14 Nghị định quy định về kinh doanh, tạm nhập với một số nội dung đáng chú ý như sau:
- Thẩm quyền cấp phép: UBND cấp tỉnh là cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy phép kinh doanh tạm nhập, tái xuất đối với hàng hóa thuộc Danh mục hàng hóa cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu; hàng hóa tạm ngừng xuất khẩu, tạm ngừng nhập khẩu; hàng hóa chưa được phép lưu hành, sử dụng tại Việt Nam; hàng hóa thuộc diện quản lý bằng biện pháp hạn ngạch xuất khẩu, hạn ngạch nhập khẩu, hạn ngạch thuế quan, giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu; trừ 02 trường hợp sau:
(1) Đối với tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài: Chỉ được thực hiện tạm nhập, tái xuất hàng hóa theo quy định tại Điều 16 Nghị định, không được thực hiện hoạt động kinh doanh tạm nhập, tái xuất hàng hóa.
(2) Trường hợp pháp luật hiện hành đã có quy định hàng hóa thuộc diện phải cấp giấy phép khi tạm nhập, tái xuất: Thương nhân thực hiện theo quy định đó, không phải có Giấy phép kinh doanh tạm nhập, tái xuất theo quy định tại Nghị định.
* Hồ sơ, quy trình cấp phép thực hiện theo quy định tại Điều 20, 21 Nghị định.
- Kiểm tra, giám sát hải quan: Hàng hóa kinh doanh tạm nhập, tái xuất chịu sự kiểm tra, giám sát của cơ quan hải quan từ khi tạm nhập cho tới khi hàng hóa thực tái xuất ra khỏi Việt Nam. Không chia nhỏ hàng hóa vận chuyển bằng công-ten-nơ trong suốt quá trình vận chuyển hàng hóa từ cửa khẩu tạm nhập đến khu vực chịu sự giám sát của cơ quan hải quan, cửa khẩu tái xuất theo quy định.
Trường hợp do yêu cầu vận chuyển cần phải thay đổi hoặc chia nhỏ hàng hóa vận chuyển bằng công-ten-nơ để tái xuất thì thực hiện theo quy định của cơ quan hải quan.
- Thời hạn lưu lại tại Việt Nam: Hàng hóa kinh doanh tạm nhập, tái xuất được lưu lại tại Việt Nam không quá 60 ngày, kể từ ngày hoàn thành thủ tục hải quan tạm nhập. Trường hợp cần kéo dài thời hạn, thương nhân có văn bản đề nghị gia hạn gửi cơ quan hải quan nơi thực hiện thủ tục tạm nhập; thời hạn gia hạn mỗi lần không quá 30 ngày và không quá 02 lần gia hạn cho mỗi lô hàng tạm nhập, tái xuất. Quá thời hạn nêu trên, thương nhân phải tái xuất hàng hóa ra khỏi Việt Nam hoặc tiêu hủy.
Trường hợp tiêu hủy hàng hóa kinh doanh tạm nhập, tái xuất do quá thời hạn lưu tại Việt Nam, thương nhân tự tổ chức tiêu hủy và chịu trách nhiệm thực hiện việc tiêu hủy theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường và pháp luật về hải quan.
Trường hợp nhập khẩu vào Việt Nam, thương nhân phải tuân thủ các quy định về quản lý nhập khẩu hàng hóa và thuế.
- Hợp đồng: Kinh doanh tạm nhập, tái xuất được thực hiện trên cơ sở hai hợp đồng riêng biệt: Hợp đồng xuất khẩu và hợp đồng nhập khẩu. Hợp đồng xuất khẩu có thể ký trước hoặc sau hợp đồng nhập khẩu.
- Thanh toán: Việc thanh toán tiền hàng theo phương thức tạm nhập, tái xuất phải tuân thủ các quy định về quản lý ngoại hối và hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
So vớiNghị định số 69/2018/NĐ-CP trước đây, Nghị định này đã bổ sung quy định miễn giấy phép kinh doanh tạm nhập tái xuất trong trường hợp pháp luật chuyên ngành đã quy định việc cấp Giấy phép và bổ sung trách nhiệm của thương nhân khi thực hiện tiêu huỷ hàng hoá kinh doanh nhập, tái xuất do quá thời hạn lưu tại Việt Nam, cần tuân thủ quy định pháp luật hiện hành về bảo vệ môi trường và quy định của pháp luật hải quan.
Những quy định mới tại Nghị định góp phần làm rõ cơ chế quản lý đối với hoạt động kinh doanh tạm nhập, tái xuất, đồng thời tăng cường trách nhiệm của thương nhân trong quá trình lưu giữ, vận chuyển và xử lý hàng hóa. Doanh nghiệp cần chủ động rà soát các hoạt động tạm nhập, tái xuất đang thực hiện, đặc biệt là yêu cầu về giấy phép, thời hạn lưu hàng và thủ tục tiêu hủy, để bảo đảm tuân thủ đầy đủ quy định pháp luật kể từ ngày Nghị định có hiệu lực.
Duy Khánh
Trách nhiệm của thương nhân trong thanh toán, chuyển tiền liên quan đến kinh doanh chuyển khẩu hàng hoá
Ngày 27/8/2026, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành Thông tư số 43/2026/TT-NHNN hướng dẫn hoạt động thanh toán và chuyển tiền liên quan đến kinh doanh chuyển khẩu hàng hóa, có hiệu lực thi hành từ ngày 05/9/2026.
Theo đó, Điều 6 Thông tư số 43/2026/TT-NHNN quy định trách nhiệm của thương nhân trong thanh toán và chuyển tiền liên quan đến kinh doanh chuyển khẩu hàng hoá như sau:
Cung cấp đầy đủ giấy tờ, chứng từ: Thương nhân phải xuất trình các loại giấy tờ, chứng từ theo quy định của ngân hàng được phép khi mua ngoại tệ, thanh toán và chuyển tiền liên quan đến kinh doanh chuyển khẩu hàng hóa và chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, trung thực của các loại giấy tờ, chứng từ đã xuất trình cho ngân hàng được phép.
Cung cấp thông tin nguồn tiền nhận về từ hợp đồng bán hàng hóa để ngân hàng được phép thống kê, theo dõi số liệu chuyển tiền ra và nhận tiền về trong cùng một giao dịch kinh doanh chuyển khẩu và chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, trung thực của các thông tin đã cung cấp cho ngân hàng được phép.
Tuân thủ quy định của pháp luật: Thương nhân phải thực hiện nghiêm túc quy định tại Thông tư số 43/2026/TT-NHNN và các quy định của pháp luật có liên quan.
Không được sử dụng bộ hồ sơ chứng từ của một giao dịch kinh doanh chuyển khẩu hàng hóa để mua ngoại tệ, thanh toán và chuyển tiền tại nhiều ngân hàng được phép, trừ trường hợp được phép quy định tại khoản 4 Điều 3 Thông tư: “Thương nhân chỉ được thanh toán và chuyển tiền trong cùng một giao dịch kinh doanh chuyển khẩu theo hợp đồng mua hàng hóa và hợp đồng bán chính hàng hóa đó tại cùng một ngân hàng được phép. Trường hợp ngân hàng được phép đó không được thực hiện thanh toán, chuyển tiền quốc tế theo quy định của pháp luật thì thương nhân được thanh toán và chuyển tiền trong cùng một giao dịch kinh doanh chuyển khẩu tại một ngân hàng được phép khác”.
Việc ban hành Thông tư số 43/2026/TT-NHNN góp phần hoàn thiện cơ sở pháp lý về thanh toán và chuyển tiền liên quan đến hoạt động kinh doanh chuyển khẩu hàng hóa, đồng thời làm rõ trách nhiệm của thương nhân và các ngân hàng được phép trong quá trình thực hiện giao dịch. Qua đó, quy định mới góp phần nâng cao tính minh bạch, thống nhất trong quản lý dòng tiền và tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng và ngoại hối.
Duy Khánh
Phạt đến 75 triệu đồng đối với doanh nghiệp sử dụng người lao động với mục đích bóc lột
Ngày 15/7/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 283/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, có hiệu lực thi hành từ ngày 10/9/2026.
Theo đó, khoản 3 Điều 11 Nghị định số 283/2026/NĐ-CP quy định mức xử phạt đối với hành vi vi phạm quy định về tuyển dụng, quản lý lao động như sau: “Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 75.000.000 đồng đối với một trong các hành vi: lôi kéo; dụ dỗ; hứa hẹn; quảng cáo gian dối hoặc thủ đoạn khác để lừa gạt người lao động hoặc để tuyển dụng người lao động với mục đích bóc lột, cưỡng bức lao động nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự”.
Bên cạnh đó, Nghị định số 283/2026/NĐ-CP cũng quy định mức xử phạt đối với một số hành vi vi phạm khác trong tuyển dụng và quản lý lao động, cụ thể:
- Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có một trong các hành vi sau đây:
+ Không khai trình việc sử dụng lao động theo quy định;
+ Thu tiền của người lao động tham gia tuyển dụng lao động;
+ Không thể hiện, nhập đầy đủ thông tin về người lao động vào sổ quản lý lao động kể từ ngày người lao động bắt đầu làm việc;
+ Không xuất trình sổ quản lý lao động khi cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền yêu cầu.
- Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với tổ chức, cá nhân có một trong các hành vi sau đây:
+ Phân biệt đối xử trong lao động trừ các hành vi phân biệt đối xử quy định tại khoản 1 Điều 10, điểm d khoản 1 Điều 19, khoản 2 Điều 34, khoản 1 Điều 40 và điểm a khoản 2 Điều 41 của Nghị định số 283/2026/NĐ-CP;
+ Sử dụng lao động chưa qua đào tạo hoặc chưa có chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia đối với nghề, công việc phải sử dụng lao động đã được đào tạo hoặc phải có chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia;
+ Không báo cáo tình hình thay đổi về lao động theo quy định;
+ Không lập sổ quản lý lao động hoặc lập sổ quản lý lao động không đúng thời hạn hoặc không đảm bảo các nội dung cơ bản theo quy định pháp luật.
Các quy định trên đặt ra yêu cầu đối với doanh nghiệp trong việc tuân thủ đầy đủ quy định về tuyển dụng, quản lý và sử dụng lao động, đặc biệt trong việc bảo đảm tính minh bạch của quá trình tuyển dụng và phòng ngừa các hành vi có dấu hiệu bóc lột, cưỡng bức lao động.
Trường An
Doanh nghiệp thành lập Sở giao dịch hàng hóa phải có vốn điều lệ từ 1.500 tỷ đồng
Ngày 01/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 302/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thương Mại về hoạt động mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa, có hiệu lực thi hành từ ngày 15/9/2026.
Theo đó, Điều 5 Nghị định số 302/2026/NĐ-CP quy định doanh nghiệp đề nghị thành lập Sở giao dịch hàng hóa phải đáp ứng các điều kiện sau:
(1) Là doanh nghiệp thành lập tại Việt Nam, trường hợp là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, tổng tỷ lệ vốn góp của các nhà đầu tư nước ngoài không được quá 49%.
(2) Vốn điều lệ từ 1.500 tỷ đồng (một nghìn năm trăm tỷ đồng) trở lên.
(3) Có hệ thống công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu quản lý, vận hành an toàn, ổn định và bảo mật, bao gồm các nội dung chủ yếu sau:
a) Nền tảng giao dịch điện tử bảo đảm hoạt động thông suốt, an toàn, có khả năng xử lý và lưu trữ dữ liệu giao dịch, sửa lệnh, hủy lệnh, kết quả khớp lệnh theo thời gian thực;
b) Có khả năng kết nối, trao đổi dữ liệu với Trung tâm thanh toán bù trừ nhằm bảo đảm hoạt động ký quỹ, thanh toán bù trừ và quản lý rủi ro trong giao dịch được thực hiện chính xác, kịp thời;
c) Hệ thống giám sát giao dịch có khả năng theo dõi, phát hiện, cảnh báo và lưu giữ dữ liệu phục vụ công tác quản lý, giám sát hoạt động giao dịch hàng hóa;
d) Yêu cầu về an ninh mạng, an ninh thông tin mạng, an ninh dữ liệu và dự phòng bảo đảm tiêu chuẩn kỹ thuật và khả năng khôi phục hệ thống khi xảy ra sự cố;
đ) Có khả năng kết nối với thành viên và cơ quan quản lý nhà nước bảo đảm tính mở, an toàn, đồng bộ và cung cấp dữ liệu chính xác, minh bạch. Chi tiết yêu cầu hệ thống công nghệ thông tin quy định tại Phụ lục III ban hành kèm theo Nghị định số 302/2026/NĐ-CP.
(4) Có mô hình, tổ chức hoạt động của Sở giao dịch hàng hóa và có giải pháp, lộ trình niêm yết hàng hóa sản xuất tại Việt Nam.
(5) Có Dự thảo Điều lệ hoạt động đáp ứng quy định tại Điều 13 Nghị định số 302/2026/NĐ-CP.
Những quy định mới nêu trên không chỉ tác động trực tiếp đến doanh nghiệp có nhu cầu thành lập Sở giao dịch hàng hóa mà còn có ý nghĩa đối với hệ sinh thái các thành viên kinh doanh, môi giới và doanh nghiệp tham gia thị trường hàng hóa, đặc biệt là các doanh nghiệp sử dụng công cụ giao dịch hàng hóa để quản trị và phòng ngừa rủi ro biến động giá.
Ngọc Hoa
Quy định mới về điều kiện thành lập, mở rộng cụm công nghiệp
từ tháng 9/2026
Nhằm phù hợp với mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, tạo thuận lợi cho việc thành lập, đầu tư xây dựng cụm công nghiệp, mở rộng quỹ đất phục vụ phát triển kinh tế tư nhân, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của các địa phương và nâng cao hiệu quả sử dụng đất, với mục đích đó, ngày 01/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 303/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 32/2024/NĐ-CP ngày 15/3/2024 của Chính phủ về quản lý, phát triển cụm công nghiệp, có hiệu lực thi hành từ ngày 15/9/2026.
Nghị định số 303/2026/NĐ-CP đã sửa đổi, bổ sung điều kiện thành lập cụm công nghiệp quy định tại điểm c khoản 1 Điều 8 Nghị định số 32/2024/NĐ-CP như sau: “Trong trường hợp địa bàn cấp xã đã thành lập cụm công nghiệp thì tỷ lệ lấp đầy trung bình của các cụm công nghiệp đạt trên 50% hoặc tổng quỹ đất công nghiệp chưa cho thuê của các cụm công nghiệp không vượt quá 50 ha. Trường hợp thành lập cụm công nghiệp công nghệ cao, cụm công nghiệp sinh thái thì không phải thực hiện quy định tại điểm này”.
Đối với việc mở rộng cụm công nghiệp (tại điểm c, d khoản 2 Điều 8 Nghị định số 32/2024/NĐ-CP), Nghị định số 303/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung điều kiện theo hướng: cụm công nghiệp phải đạt tỷ lệ lấp đầy ít nhất 50% hoặc nhu cầu thuê đất công nghiệp trong cụm công nghiệp vượt quá diện tích đất công nghiệp hiện có của cụm công nghiệp.
Bên cạnh đó, phải hoàn thành xây dựng, đưa vào sử dụng các công trình hạ tầng kỹ thuật dùng chung thiết yếu của cụm công nghiệp (gồm: Đường giao thông nội bộ, cấp nước, thu gom và xử lý nước thải, rác thải, phòng cháy chữa cháy) theo quy hoạch chi tiết đã được phê duyệt. Điều kiện này không áp dụng đối với cụm công nghiệp hình thành trước Quyết định số 105/2009/QĐ-TTg ngày 19/8/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quy chế quản lý cụm công nghiệp.
Theo Bộ Công Thương, thực tiễn thời gian qua cho thấy việc đầu tư hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật tại các cụm công nghiệp do đơn vị nhà nước đầu tư, quản lý, chủ yếu là các cụm công nghiệp hình thành trước Quyết định số 105/2009/QĐ-TTg, còn chậm do nguồn lực ngân sách địa phương hạn chế. Việc thiếu kinh phí để đầu tư đồng bộ khiến hạ tầng tại một số cụm công nghiệp được đầu tư chắp vá, nhiều hạng mục xuống cấp hoặc chưa được đầu tư, nhất là các công trình hạ tầng bảo vệ môi trường.
Việc sửa đổi các điều kiện nêu trên nhằm tạo thuận lợi cho địa phương thu hút doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ chức kinh tế tham gia đầu tư phần mở rộng cụm công nghiệp và quản lý phần cụm công nghiệp đã được thành lập (nếu có); qua đó đẩy nhanh tiến độ hoàn thiện hạ tầng, thu hút đầu tư, nâng tỷ lệ lấp đầy và phát huy hiệu quả các cụm công nghiệp do Nhà nước đầu tư, quản lý trước đây.
Đáng chú ý, Nghị định số 303/2026/NĐ-CP còn sửa đổi, bổ sung quy định về hồ sơ, trình tự, thủ tục thành lập, mở rộng cụm công nghiệp tại Điều 9 và Điều 10 theo hướng chuyển từ cơ chế “tiền kiểm” sang “hậu kiểm”, rà soát, loại bỏ một số hồ sơ, tài liệu không cần thiết trong quá trình đề nghị thành lập, mở rộng cụm công nghiệp; đồng thời rút ngắn thời gian tiếp nhận, xử lý thủ tục hành chính, góp phần tạo môi trường thuận lợi hơn cho đầu tư, phát triển cụm công nghiệp tại các địa phương.
Thành Dương
Quy định mới về điều kiện tham gia giao dịch trên sàn dữ liệu
từ ngày 25/9/2026
Ngày 08/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 314/2026/NĐ-CP quy định hoạt động của sàn dữ liệu, có hiệu lực thi hành từ ngày 25/9/2026.
Theo đó, Điều 16 Nghị định số 314/2026/NĐ-CP quy định điều kiện tham gia giao dịch trên sàn dữ liệu của các tổ chức, cá nhân như sau:
- Tổ chức là pháp nhân Việt Nam được thành lập và hoạt động hợp pháp trên lãnh thổ Việt Nam; không đang trong quá trình chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, chuyển đổi, giải thể, phá sản theo quy định của pháp luật.
- Tổ chức là pháp nhân nước ngoài phải được thành lập hợp pháp theo quy định của pháp luật nơi pháp nhân đó đặt trụ sở; đáp ứng các điều kiện tham gia giao dịch theo quy định của pháp luật dân sự và các quy định khác có liên quan; có hiện diện thương mại, chi nhánh, văn phòng đại diện tại Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam hoặc điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
- Cá nhân có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của pháp luật.
- Tổ chức cung cấp sản phẩm, dịch vụ về dữ liệu thuộc danh mục ngành, nghề kinh doanh có điều kiện phải được cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh theo quy định của pháp luật.
Nghị định số 314/2026/NĐ-CP quy định dữ liệu, sản phẩm, dịch vụ về dữ liệu được giao dịch trên sàn dữ liệu phải bảo đảm các nội dung sau:
Thứ nhất, về tính hợp pháp và thông tin công bố
- Có nguồn gốc hợp pháp và được chứng minh bằng các hồ sơ, tài liệu hợp lệ về việc thu thập, tạo lập hoặc nhận chuyển giao quyền khai thác, sử dụng dữ liệu; đối tượng, nội dung, phương pháp và quy trình tạo ra dữ liệu, sản phẩm, dịch vụ về dữ liệu phải bảo đảm tính minh bạch, tuân thủ quy định của pháp luật và đã được tổ chức kinh doanh dịch vụ sàn dữ liệu kiểm tra, đánh giá.
Việc cung cấp thông tin, hồ sơ, tài liệu không bao gồm các nội dung thuộc bí mật kinh doanh hoặc các thông tin khác thuộc phạm vi bảo vệ theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Tổ chức kinh doanh dịch vụ sàn dữ liệu có trách nhiệm kiểm tra, đánh giá sự phù hợp của hồ sơ, tài liệu theo quy định;
- Có các điều kiện, yêu cầu hoặc hạn chế (nếu có) trong việc lưu thông, lưu hành và sử dụng dữ liệu, sản phẩm, dịch vụ về dữ liệu đã được Bên bán xác định và công bố rõ ràng trong hồ sơ dữ liệu, sản phẩm, dịch vụ về dữ liệu.
Thứ hai, không thuộc trường hợp dữ liệu không được phép giao dịch theo quy định của pháp luật về dữ liệu.
Thứ ba, tuân thủ các yêu cầu kỹ thuật tối thiểu sau đây:
- Có định dạng phù hợp, thông dụng, bảo đảm khả năng đọc, khai thác và xử lý bằng máy;
- Trường hợp được cung cấp thông qua giao diện lập trình ứng dụng, phải có tài liệu hướng dẫn kết nối, mô tả cấu trúc dữ liệu, phương thức xác thực, phân quyền truy cập và giới hạn khai thác;
- Bảo đảm khả năng kết nối, chia sẻ, khai thác và sử dụng trên hệ thống của sàn dữ liệu;
- Bảo đảm an toàn, bảo mật trong quá trình kết nối, truyền, nhận, lưu trữ và khai thác dữ liệu;
- Bên bán phải công bố trong hồ sơ niêm yết thông tin về chất lượng, mức độ chính xác, đầy đủ, cập nhật và các hạn chế của dữ liệu, sản phẩm, dịch vụ về dữ liệu.
Tổ chức kinh doanh dịch vụ sàn dữ liệu căn cứ các yêu cầu tối thiểu quy định tại khoản này để ban hành, công khai yêu cầu kỹ thuật cụ thể phù hợp với đặc điểm hoạt động của sàn dữ liệu.
Nghị định số 314/2026/NĐ-CP tạo cơ sở pháp lý cho việc hình thành và vận hành thị trường giao dịch dữ liệu theo hướng minh bạch, an toàn và có kiểm soát, đồng thời mở ra khả năng phát triển các sản phẩm, dịch vụ và mô hình kinh doanh mới dựa trên dữ liệu. Đây là chính sách đáng chú ý đối với doanh nghiệp công nghệ, trí tuệ nhân tạo, tài chính, thương mại điện tử và các doanh nghiệp sở hữu, hoặc khai thác lượng dữ liệu lớn.
Việc hình thành cơ chế giao dịch dữ liệu có thể tạo thêm sản phẩm, dịch vụ và mô hình kinh doanh mới, đồng thời đặt ra yêu cầu cao hơn về nguồn gốc dữ liệu, quyền khai thác, sử dụng và bảo vệ dữ liệu.
Đức Thành
Từ ngày 28/9/2026, sửa đổi, bổ sung quy trình cập nhật, tích hợp thông tin, giấy tờ trong hệ thống định danh
Để tạo hành lang pháp lý cho việc tích hợp giấy tờ cấp cho doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân lên hệ thống định danh và xác thực điện tử, theo đó, ngày 13/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 320/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 69/2024/NĐ-CP ngày 25/6/2024 của Chính phủ quy định về định danh và xác thực điện tử, có hiệu lực thi hành từ ngày 28/9/2026.
Nghị định số 320/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Điều 8 Nghị định số 69/2024/NĐ-CP về cập nhật, chia sẻ, khai thác thông tin, giấy tờ trong hệ thống định danh và xác thực điện tử như sau:
1. Các giấy tờ không thuộc bí mật nhà nước do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cấp cho cơ quan, tổ chức, cá nhân được tự động đồng bộ, cập nhật vào hệ thống định danh và xác thực điện tử khi cơ quan, tổ chức đó có cơ sở dữ liệu đã kết nối với hệ thống định danh và xác thực điện tử.
Khi thông tin, giấy tờ trên Ứng dụng định danh quốc gia có sự thay đổi thì cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cấp giấy tờ phải thực hiện cập nhật ngay thông tin, giấy tờ. Trường hợp khách quan chưa thể thực hiện tại thời điểm phát sinh thay đổi thì thời gian cập nhật trên Ứng dụng định danh quốc gia không quá 24 giờ kể từ thời điểm phát sinh dữ liệu cập nhật và không quá 05 phút trong trường hợp công dân có yêu cầu cập nhật trực tiếp trên Ứng dụng định danh quốc gia.
2. Việc tích hợp thông tin, giấy tờ trong trường hợp cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cấp giấy tờ chưa có cơ sở dữ liệu được thực hiện như sau:
a) Chủ thể danh tính điện tử gửi yêu cầu tích hợp thông tin, giấy tờ đến hệ thống định danh và xác thực điện tử thông qua Ứng dụng định danh quốc gia;
b) Trong thời gian 05 ngày làm việc kể từ ngày hệ thống định danh và xác thực điện tử nhận được yêu cầu, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cấp giấy tờ thực hiện truy cập hệ thống định danh và xác thực điện tử bằng tài khoản định danh điện tử của cơ quan, tổ chức đó để tiếp nhận, xử lý, phê duyệt yêu cầu tích hợp thông tin, giấy tờ của chủ thể danh tính điện tử theo hướng dẫn của Bộ Công an;
c) Cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cấp giấy tờ thực hiện cập nhật thông tin, giấy tờ đã tích hợp trên Ứng dụng định danh quốc gia đồng thời với việc phê duyệt điều chỉnh thông tin, giấy tờ đó.
3. Cơ quan quản lý, vận hành hệ thống định danh và xác thực điện tử tích hợp giấy tờ lên Ứng dụng định danh quốc gia theo yêu cầu của chủ thể danh tính điện tử để phục vụ việc chia sẻ, khai thác, sử dụng trên môi trường điện tử.
4. Cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội được khai thác thông tin, giấy tờ trong hệ thống định danh và xác thực điện tử phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức đó.
5. Cơ quan, tổ chức, cá nhân được khai thác thông tin, giấy tờ của mình trong hệ thống định danh và xác thực điện tử.
6. Cơ quan, tổ chức, cá nhân không thuộc quy định tại khoản 4 và khoản 5 nêu trên khi khai thác thông tin, giấy tờ của tổ chức, cá nhân khác trong hệ thống định danh và xác thực điện tử qua Ứng dụng định danh quốc gia phải được sự đồng ý của chủ thể thông tin, giấy tờ được khai thác.
Trường hợp khai thác thông tin, giấy tờ của người bị mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi theo quy định của Bộ luật Dân sự, người dưới 14 tuổi, người bị tuyên bố mất tích, người đã chết phải được sự đồng ý của một trong những người đại diện hợp pháp, người thừa kế theo quy định pháp luật.
Đáng chú ý, quy định mới mở rộng khả năng tích hợp, cập nhật giấy tờ của cơ quan, tổ chức trên hệ thống định danh và xác thực điện tử; theo đó, 140 loại giấy tờ cấp cho cơ quan, tổ chức có thể được tích hợp, cập nhật trên Ứng dụng định danh quốc gia.
Đối với doanh nghiệp, việc tích hợp và khai thác thông tin, giấy tờ trên hệ thống định danh và xác thực điện tử được kỳ vọng góp phần giảm yêu cầu cung cấp lại hồ sơ, giấy tờ và dữ liệu khi thực hiện thủ tục hành chính, giao dịch điện tử; đồng thời thúc đẩy số hóa quy trình xác thực, chia sẻ dữ liệu và cung cấp dịch vụ trên môi trường điện tử.
Hoàng Long
Điều kiện xét tặng danh hiệu giải thưởng cho doanh nhân,
doanh nghiệp
Ngày 16/9/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 45/2026/QĐ-TTg quy định thi hành một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/10/2026.
Theo đó, Điều 24, 25 Quyết định số 45/2026/QĐ-TTg quy định điều kiện xét tặng danh hiệu giải thưởng cho doanh nhân, doanh nghiệp như sau:
Điều kiện tham dự của doanh nhân
- Có phẩm chất đạo đức tốt, thực hiện nghiêm chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nội quy, quy chế của cơ quan, tổ chức và nơi cư trú.
- Giữ chức vụ quản lý doanh nghiệp và tổ chức kinh tế khác ổn định và phát triển liên tục từ 05 năm trở lên khi tham gia danh hiệu, giải thưởng của bộ, ngành, đoàn thể trung ương và từ 03 năm trở lên khi tham gia xét tôn vinh và trao tặng danh hiệu, giải thưởng của tỉnh, thành phố (tính đến thời điểm nộp hồ sơ đề nghị).
Trường hợp doanh nhân tham gia điều hành nhiều doanh nghiệp khác nhau hoặc chuyển việc thì được cộng dồn thời gian tham gia điều hành các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế khác để tính làm điều kiện tham gia xét danh hiệu, giải thưởng.
- Có sáng kiến cải tiến, biện pháp quản lý hoặc ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh vào sản xuất, kinh doanh có hiệu quả. Ứng dụng các công nghệ về trí tuệ nhân tạo trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và tổ chức kinh tế khác.
- Quan tâm đào tạo, nâng cao trình độ, tay nghề cho người lao động, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho doanh nghiệp và tổ chức kinh tế khác. Thực hiện tốt, đầy đủ các chế độ đối với người lao động theo quy định của pháp luật.
- Tích cực tham gia các phong trào thi đua do bộ, ngành, địa phương hoặc trung ương phát động, có đóng góp, ủng hộ và thực hiện tốt trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, doanh nhân và tổ chức kinh tế khác tại địa phương; quan tâm phát triển tổ chức Đảng, Công đoàn, các tổ chức quần chúng (nếu có) trong doanh nghiệp và tổ chức kinh tế khác.
- Doanh nghiệp, tổ chức kinh tế khác do doanh nhân quản lý phải thực hiện đúng các quy định của pháp luật; có doanh thu; lợi nhuận, nộp ngân sách nhà nước, thu nhập người lao động ổn định và có tăng trưởng.
Các chỉ tiêu về ổn định và tăng trưởng phải được cụ thể hóa trong Quy chế xét tặng danh hiệu, giải thưởng của cơ quan, đơn vị tổ chức. Không có vụ việc vi phạm pháp luật đã được cơ quan có thẩm quyền kết luận.
Điều kiện tham dự của doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế khác
- Thực hiện đúng các điều kiện theo ngành, nghề đã đăng ký hoặc được cấp giấy phép đầu tư, các quy định của pháp luật về doanh nghiệp, đầu tư, lao động, đất đai, xây dựng, bảo vệ môi trường, sở hữu trí tuệ, chất lượng sản phẩm, hàng hóa và các quy định pháp luật khác liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh.
- Hoạt động sản xuất, kinh doanh mang lại lợi nhuận, nộp ngân sách nhà nước ổn định và có tăng trưởng dương. Các chỉ tiêu về lợi nhuận, nộp ngân sách, tăng trưởng phải được cụ thể hóa bằng các chỉ số định lượng trong Quy chế xét tặng danh hiệu, giải thưởng của cơ quan, đơn vị tổ chức.
- Có sáng kiến, cải tiến kỹ thuật hoặc ứng dụng khoa học công nghệ và chuyển đổi số, chuyển đổi xanh vào sản xuất, kinh doanh có hiệu quả. Ứng dụng trí tuệ nhân tạo giúp tự động hóa quy trình, tối ưu hóa năng suất và nâng cao chất lượng, hiệu quả trong hoạt động sản xuất, kinh doanh và tạo ra những giá trị đóng góp tích cực cho sự phát triển chung của xã hội, đất nước.
- Chấp hành đầy đủ các nghĩa vụ về tài chính, thuế và các khoản thu khác của ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật; tích cực đóng góp vào ngân sách nhà nước và quỹ phúc lợi xã hội.
- Đảm bảo cho người lao động có việc làm ổn định và mức thu nhập không thấp hơn mức thu nhập trung bình ngành, lĩnh vực; thực hiện đầy đủ, kịp thời chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và các chính sách, pháp luật liên quan đến người lao động.
- Thực hiện tốt công tác an sinh xã hội, tích cực tham gia hiệu quả các phong trào thi đua do bộ, ngành, địa phương hoặc trung ương phát động; tích cực phát triển tổ chức Đảng, Công đoàn, các tổ chức quần chúng (nếu có) trong doanh nghiệp và tổ chức kinh tế khác.
- Không có vụ việc vi phạm pháp luật đã được cơ quan có thẩm quyền kết luận.
Như vậy, các tiêu chí xét tặng danh hiệu, giải thưởng theo Quyết định số 45/2026/QĐ-TTg cho doanh nhân, doanh nghiệp không chỉ tập trung vào kết quả sản xuất, kinh doanh mà còn chú trọng đạo đức, trách nhiệm xã hội, tuân thủ pháp luật, chăm lo người lao động và năng lực đổi mới sáng tạo. Đặc biệt, việc ghi nhận ứng dụng khoa học, công nghệ, trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh cho thấy định hướng khuyến khích doanh nhân, doanh nghiệp phát triển theo hướng hiện đại, bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Thành Dương
Tiêu chí xác định dự án xanh, dự án đáp ứng tiêu chí tuần hoàn
Ngày 17/9/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 46/2026/QĐ-TTg hướng dẫn xác định dự án xanh, dự án đáp ứng tiêu chí tuần hoàn và áp dụng khung tiêu chuẩn môi trường, xã hội, quản trị, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/11/2026. Theo Quyết định số 46/2026/QĐ-TTg, đối tượng áp dụng bao gồm:
(1) Doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân theo quy định của pháp luật;
(2) Hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 3 Nghị quyết số 198/2025/QH15 ngày 17 tháng 5 năm 2025 của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc biệt phát triển kinh tế tư nhân;
(3) Tổ chức đánh giá độc lập xác định dự án xanh, dự án đáp ứng tiêu chí tuần hoàn;
(4) Cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện chính sách hỗ trợ lãi suất của Nhà nước cho doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh thực hiện dự án xanh, dự án đáp ứng tiêu chí tuần hoàn và áp dụng khung tiêu chuẩn môi trường, xã hội, quản trị;
(5) Ngân hàng thương mại, quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách tham gia thực hiện chính sách hỗ trợ lãi suất của Nhà nước cho doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh thực hiện dự án xanh, dự án đáp ứng tiêu chí tuần hoàn và áp dụng khung tiêu chuẩn môi trường, xã hội, quản trị;
(6) Cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan.
Tiêu chí xác định dự án xanh
Quyết định số 46/2026/QĐ-TTg quy định dự án xanh là dự án đáp ứng các tiêu chí sau: thuộc loại hình dự án, có mục tiêu và đồng thời đáp ứng yêu cầu quy định tại Phụ lục I ban hành kèm theo Quyết định. Trong đó, trọng tâm là các tiêu chí như sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, ứng phó với biến đổi khí hậu, cải thiện chất lượng môi trường.
Theo đó, Phụ lục I quy định các tiêu chí cụ thể đối với các loại hình dự án thuộc nhiều ngành, lĩnh vực gồm:
10 loại hình dự án trong lĩnh vực năng lượng gồm: Sản xuất điện mặt trời; sản xuất điện gió; Sản xuất điện từ nguồn năng lượng bền vững khác; Sản xuất nhiệt hoặc làm mát từ các nguồn năng lượng tái tạo, năng lượng mới…
03 loại hình dự án trong lĩnh vực giao thông vận tải gồm: Đầu tư phương tiện giao thông không phát thải hoặc phát thải các-bon thấp phục vụ vận tải; Xây dựng cơ sở hạ tầng cung cấp nhiên liệu hoặc năng lượng phục vụ phương tiện giao thông vận tải không phát thải hoặc phát thải các-bon thấp; Cung cấp dịch vụ tái nạp năng lượng cho phương tiện giao thông vận tải không phát thải hoặc phát thải các-bon thấp.
02 loại hình dự án trong lĩnh vực xây dựng gồm: Xây dựng mới, cải tạo nhà các loại đạt mục tiêu công trình xanh, sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả; Xây dựng mới, cải tạo công trình công ích thân thiện với môi trường, tiết kiệm năng lượng.
03 loại hình dự án trong lĩnh vực tài nguyên nước gồm: Xây dựng công trình cấp, thoát nước; Khai thác, xử lý và cung cấp nước sạch, Quản lý chất lượng và bảo vệ nguồn nước.
12 loại hình dự án thuộc lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và bảo tồn đa dạng sinh học gồm: trồng cây hàng năm và cây lâu năm theo tiêu chuẩn bền vững; mô hình chăn nuôi theo tiêu chuẩn thực hành nông nghiệp tốt...
06 loại hình dự án thuộc lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo gồm: sản xuất thiết bị điện, máy móc, thiết bị tiết kiệm và sử dụng hiệu quả năng lượng; Sản xuất linh kiện, thiết bị điện tử phục vụ phát triển công nghệ các-bon thấp; Sản xuất phương tiện giao thông vận tải ứng dụng công nghệ các-bon thấp…
09 loại hình dự án thuộc lĩnh vực dịch vụ môi trường gồm: Xử lý chất thải rắn sinh hoạt, công nghiệp thông thường; tái chế chất thải; xử lý khí thải...
Các nhóm dự án đáp ứng tiêu chí tuần hoàn
Dự án đáp ứng tiêu chí tuần hoàn là dự án đáp ứng các tiêu chí sau: thuộc một trong các nhóm dự án quy định tại các khoản 3, 4, 5 và 6 Điều 3 Quyết định số 46/2026/QĐ-TTg, đồng thời đáp ứng yêu cầu theo loại hình dự án thuộc ngành, lĩnh vực, sản phẩm quy định tại Phụ lục II ban hành kèm theo Quyết định, cụ thể:
Nhóm dự án thiết kế, sản xuất tuần hoàn gồm các dự án áp dụng một hoặc nhiều biện pháp tuần hoàn trong thiết kế sản phẩm, quy trình sản xuất hoặc cung ứng dịch vụ để đạt mục tiêu giảm khai thác, sử dụng tài nguyên không tái tạo, tài nguyên nước; nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên, nguyên liệu thô, vật liệu; sử dụng tiết kiệm, hiệu quả năng lượng; tăng cường sử dụng nguyên liệu, vật liệu thân thiện với môi trường.
Nhóm dự án sử dụng tuần hoàn gồm các dự án áp dụng một hoặc nhiều biện pháp tuần hoàn tái sử dụng, sửa chữa, cải tạo, nâng cấp, tân trang, chuyển đổi công năng, tái sản xuất, cho thuê hoặc chia sẻ sản phẩm, trang thiết bị, công trình để đạt mục tiêu kéo dài vòng đời sử dụng của vật liệu, linh kiện, cấu kiện, thiết bị, sản phẩm và hàng hóa.
Nhóm dự án phục hồi tài nguyên gồm các dự án áp dụng một hoặc nhiều biện pháp tuần hoàn thu gom, tái chế phụ phẩm, chất thải hoặc các biện pháp khác để đạt mục tiêu hạn chế chất thải phát sinh và giảm thiểu tác động xấu đến môi trường...
Nhóm dự án cộng sinh công nghiệp, liên kết tuần hoàn gồm các dự án áp dụng các biện pháp tuần hoàn giữa các lĩnh vực, trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu đô thị hoặc khu dân cư tập trung nhằm đạt các mục tiêu sử dụng hiệu quả nguyên liệu, vật liệu, năng lượng và tài nguyên; kéo dài vòng đời sản phẩm; hạn chế phát sinh chất thải và giảm thiểu tác động xấu đến môi trường.
Bên cạnh việc hướng dẫn xác định dự án xanh, dự án đáp ứng tiêu chí tuần hoàn, Quyết định số 46/2026/QĐ-TTg còn quy định cụ thể về việc áp dụng khung tiêu chuẩn môi trường, xã hội, quản trị; trách nhiệm của doanh nghiệp, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh khi thực hiện các dự án này và áp dụng khung tiêu chuẩn môi trường, xã hội, quản trị. Đồng thời, Quyết định phân định rõ trách nhiệm, nhiệm vụ của các bộ, ngành, cơ quan, đơn vị trong tổ chức triển khai thực hiện, bảo đảm các quy định được áp dụng thống nhất, hiệu quả...
Thành Dương
Quy định mới về lựa chọn nhà thầu: Những điều doanh nghiệp cần quan tâm
Ngày 09/9/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 349/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Đấu thầu về lựa chọn nhà thầu, có hiệu lực thi hành từ ngày 09/09/2026.
Theo đó, Nghị định số 349/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số Điều của Nghị định số 214/2025/NĐ-CP ngày 04/8/2025 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Đấu thầu về lựa chọn nhà thầu (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 165/2026/NĐ-CP ngày 15/5/2026 và Nghị định số 170/2026/NĐ-CP ngày 15/5/2026) và sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 32/2019/NĐ-CP ngày 10/4/2019 của Chính phủ quy định giao nhiệm vụ, đặt hàng hoặc đấu thầu cung cấp sản phẩm, dịch vụ công sử dụng ngân sách nhà nước từ nguồn kinh phí chi thường xuyên (đã được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Nghị định số 111/2025/NĐ-CP ngày 22/5/2025 và Nghị định số 214/2025/NĐ-CP ngày 04/8/2025 của Chính phủ).
Điều chỉnh cách xác định giá gói thầu từ báo giá
Nghị định số 349/2026/NĐ-CP sửa đổi điểm d khoản 2 Điều 18 Nghị định số 214/2025/NĐ-CP về căn cứ xác định giá gói thầu theo hướng:
- Chủ đầu tư phải đăng tải yêu cầu báo giá trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia, đơn vị quan tâm phải gửi báo giá trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia trong thời hạn tối thiểu 03 ngày làm việc kể từ ngày đăng tải yêu cầu báo giá. Trường hợp có nhiều hơn 01 báo giá thì được lấy giá trung bình của các báo giá; khi xác định giá trung bình, trường hợp có báo giá hoặc hạng mục trong báo giá có giá cao hoặc thấp hơn 30% giá trung bình, chủ đầu tư có quyền loại trừ các báo giá này để xác định giá trung bình. Tối thiểu phải có 01 báo giá của hàng hóa, dịch vụ; khuyến khích thu thập nhiều hơn 01 báo giá.
- Đối với gói thầu mua thuốc; hóa chất, vật tư xét nghiệm, thiết bị y tế; linh kiện, phụ kiện, vật tư thay thế sử dụng cho thiết bị y tế: trên cơ sở yêu cầu chuyên môn, chủ đầu tư quyết định các tiêu chí kỹ thuật và tổ chức lấy báo giá. Chủ đầu tư phải đăng tải yêu cầu báo giá trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia; khuyến khích đăng tải trên Cổng thông tin điện tử hoặc Trang thông tin điện tử của chủ đầu tư hoặc Cổng thông tin điện tử của Bộ Y tế hoặc Cổng dịch vụ công trực tuyến về quản lý thiết bị y tế; đơn vị quan tâm gửi báo giá trong thời hạn tối thiểu 10 ngày kể từ ngày đăng tải yêu cầu báo giá trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia. Trường hợp có từ 02 báo giá trở lên, chủ đầu tư được lựa chọn báo giá cao nhất phù hợp với khả năng tài chính và yêu cầu chuyên môn.
- Chủ đầu tư chịu trách nhiệm thu thập báo giá bảo đảm công khai, minh bạch. Đơn vị cung cấp báo giá chịu trách nhiệm cung cấp thông tin về giá của hàng hóa, dịch vụ phù hợp với khả năng cung cấp của mình và phải bảo đảm việc cung cấp báo giá không vi phạm quy định của pháp luật về cạnh tranh, bán phá giá hoặc nâng khống giá.
- Trường hợp chủ đầu tư đã tuân thủ đầy đủ quy định về tổ chức thu thập báo giá, bảo đảm công khai, minh bạch thì chủ đầu tư không phải chịu trách nhiệm đối với việc đơn vị cung cấp vi phạm quy định về cung cấp báo giá tại điểm d khoản 2 Điều 18 Nghị định số 214/2025/NĐ-CP.
Như vậy, quy định mới yêu cầu bắt buộc đăng tải thông tin đề nghị báo giá trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia, đồng thời rút ngắn thời gian tiếp nhận báo giá thông thường từ 05 ngày xuống còn tối thiểu 03 ngày làm việc.
Bên cạnh đó, quy định bổ sung cơ chế loại bỏ báo giá hoặc hạng mục có mức chênh lệch trên 30% so với giá trung bình và bổ sung quy định bảo vệ trách nhiệm của chủ đầu tư nếu chủ đầu tư đã tuân thủ đầy đủ quy trình mà nhà cung cấp lại vi phạm quy định về báo giá.
Mở rộng các trường hợp có thể áp dụng chỉ định thầu
Một nội dung đáng chú ý khác là Nghị định số 349/2026/NĐ-CP bổ sung trường hợp chỉ định thầu đối với các gói thầu cần đẩy nhanh tiến độ, bảo đảm chất lượng, hiệu quả, gồm: Gói thầu xây lắp có quy mô, tính chất tương tự với gói thầu trước đó đã tổ chức đấu thầu rộng rãi, đấu thầu hạn chế mà nhà thầu đã thực hiện đáp ứng tiến độ, bảo đảm chất lượng, hiệu quả trong thời gian 05 năm kể từ thời điểm nhà thầu ký hợp đồng trước đó đến ngày phê duyệt kế hoạch lựa chọn nhà thầu.
Ngoài ra, bổ sung gói thầu có yêu cầu, điều kiện đặc thù về chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ thuật, công nghệ, thị trường cung ứng, gồm: Gói thầu mua sắm từ các hoạt động thanh lý, giải thể, phá sản; Hàng hóa được mua thông qua giao dịch trên sàn giao dịch hàng hóa.
Điều chỉnh tăng các hạn mức chỉ định thầu
Nghị định số 349/2026/NĐ-CP đồng thời nâng hạn mức giá trị đối với một số gói thầu được áp dụng hình thức chỉ định thầu.
Cụ thể, gói thầu thuộc dự toán mua sắm không hình thành dự án có giá gói thầu không quá 01 tỷ đồng (trước đây là 500 triệu đồng); gói thầu dịch vụ tư vấn thuộc dự án có giá gói thầu không quá 03 tỷ đồng (trước đây là 800 triệu đồng), gói thầu dịch vụ phi tư vấn, hàng hóa, xây lắp, hỗn hợp thuộc dự án có giá gói thầu không quá 05 tỷ đồng (trước đây là 2 tỷ đồng).
Nâng ngưỡng giá trị mua sắm được tự quyết định
Theo đó, Nghị định số 349/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung khoản 4 Điều 80 Nghị định số 214/2025/NĐ-CP theo hướng: Đối với gói thầu hoặc nội dung mua sắm có giá không quá 100 triệu đồng (trước đây quy định là không quá 50 triệu đồng) thì Thủ trưởng cơ quan, đơn vị mua sắm chịu trách nhiệm quyết định việc mua sắm bảo đảm tiết kiệm, hiệu quả và tự chịu trách nhiệm về quyết định của mình, không phải đáp ứng điều kiện quy định tại khoản 2 Điều 79 của Nghị định, không phải thực hiện quy trình quy định tại khoản 3 Điều 80 Nghị định số 214/2025/NĐ-CP nhưng phải bảo đảm chế độ hóa đơn, chứng từ đầy đủ theo quy định của pháp luật hoặc được thực hiện theo quy trình chỉ định thầu rút gọn quy định tại khoản 3 Điều 80 Nghị định số 214/2025/NĐ-CP.
Quy định mới góp phần giảm bớt thủ tục đối với các khoản mua sắm thường xuyên có giá trị không lớn, qua đó giảm thời gian và chi phí tổ chức lựa chọn nhà thầu.
Bổ sung phương án giải quyết một số tình huống trong đấu thầu qua mạng và không qua mạng
Nghị định số 349/2026/NĐ-CP bổ sung quy định xử lý đối với một số tình huống phát sinh trong đấu thầu qua mạng và đấu thầu không qua mạng.
Theo đó, trường hợp gói thầu chỉ có một nhà thầu tham dự thầu và có hồ sơ dự thầu đáp ứng cơ bản yêu cầu của hồ sơ mời thầu nhưng không đáp ứng yêu cầu kỹ thuật theo quy định của hồ sơ mời thầu đối với hạng mục hàng hóa là vật tư, thiết bị thông thường, thông dụng, sẵn có trên thị trường với tổng giá trị các hạng mục hàng hóa này trong giá gói thầu chiếm tỷ trọng không quá 1% giá gói thầu thì chủ đầu tư xem xét, quyết định cho phép nhà thầu bổ sung, thay thế các hàng hóa đó. Việc bổ sung, thay thế không được cao hơn đơn giá của hàng hóa đã chào.
Trong quá trình đánh giá hồ sơ dự thầu, hồ sơ đề xuất, trường hợp thời gian đánh giá bị kéo dài dẫn đến hồ sơ dự thầu, hồ sơ đề xuất của nhà thầu hết hiệu lực, chủ đầu tư được quyền yêu cầu nhà thầu khôi phục hiệu lực của hồ sơ dự thầu, hồ sơ đề xuất, bảo đảm dự thầu tương ứng.
Trường hợp nhà thầu không chấp thuận hoặc từ chối việc khôi phục hiệu lực của hồ sơ dự thầu, hồ sơ đề xuất, bảo đảm dự thầu thì hồ sơ dự thầu, hồ sơ đề xuất của nhà thầu không được tiếp tục xem xét, đánh giá và không bị xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật về đấu thầu.
Quy định chuyển tiếp đối với các trường hợp đang thực hiện
- Đối với Nghị định số 32/2019/NĐ-CP:
- Đối với sản phẩm, dịch vụ công đã có quyết định đặt hàng, ký hợp đồng đặt hàng trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành thì tiếp tục thực hiện theo quy định tại Nghị định số 32/2019/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị định số 111/2025/NĐ-CP và Nghị định số 214/2025/NĐ-CP) cho đến khi hoàn thành thanh toán, quyết toán kinh phí đặt hàng cung cấp sản phẩm, dịch vụ công;
- Việc đặt hàng sản phẩm, dịch vụ công sử dụng ngân sách nhà nước từ nguồn chi thường xuyên đã được giao dự toán ngân sách nhà nước năm 2026 (bao gồm dự toán năm trước được chuyển nguồn sang năm 2026, dự toán được bổ sung năm 2026) nhưng chưa có quyết định đặt hàng, chưa ký hợp đồng đặt hàng thì cơ quan đặt hàng được quyết định việc tiếp tục áp dụng theo quy định tại Nghị định số 32/2019/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị định số 111/2025/NĐ-CP và Nghị định số 214/2025/NĐ-CP) hoặc quy định tại Nghị định này;
- Đối với định mức kinh tế - kỹ thuật, định mức chi phí sản phẩm, dịch vụ công sử dụng ngân sách nhà nước; tiêu chí, tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm, dịch vụ công; cơ chế giám sát, đánh giá, kiểm định chất lượng và quy chế kiểm tra, nghiệm thu sản phẩm, dịch vụ công đã được cơ quan có thẩm quyền ban hành trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành thì tiếp tục thực hiện theo các quy định hiện hành.
Đối với Nghị định số 214/2025/NĐ-CP:
- Gói thầu đã phát hành hồ sơ mời quan tâm, hồ sơ mời sơ tuyển, hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu, gửi dự thảo hợp đồng đối với gói thầu áp dụng hình thức chỉ định thầu rút gọn trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành thì tiếp tục tổ chức lựa chọn danh sách ngắn, lựa chọn nhà thầu, ký kết, quản lý thực hiện hợp đồng và giải quyết kiến nghị theo quy định của Luật Đấu thầu số 22/2023/QH15 (đã được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Luật số 57/2024/QH15, Luật số 90/2025/QH15), Nghị định số 214/2025/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 165/2026/NĐ-CP ngày 15/5/2026 và Nghị định số 170/2026/NĐ-CP ngày 15/5/2026), các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành và được áp dụng quy định tại Điều 16 của Nghị định này;
- Đối với gói thầu đã phê duyệt kế hoạch lựa chọn nhà thầu nhưng đến ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành chưa phát hành hồ sơ mời quan tâm, hồ sơ mời sơ tuyển, hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu, dự thảo hợp đồng đối với gói thầu áp dụng hình thức chỉ định thầu rút gọn và có nội dung không phù hợp với quy định của Nghị định này thì chủ đầu tư được điều chỉnh kế hoạch lựa chọn nhà thầu đã phê duyệt để thực hiện theo quy định của Nghị định này;
- Đối với gói thầu mua vắc xin sản xuất trong nước quy định tại điểm b khoản 4 Điều 84 của Nghị định số 214/2025/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 165/2026/NĐ-CP và Nghị định số 170/2026/NĐ-CP) mà chủ đầu tư đã ký hợp đồng với nhà sản xuất vắc xin trong nước theo quy định tại khoản 3 Điều 85 của Nghị định số 214/2025/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 165/2026/NĐ-CP và Nghị định số 170/2026/NĐ-CP) trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành thì chủ đầu tư và nhà sản xuất vắc xin trong nước được điều chỉnh hợp đồng đã ký và thực hiện việc thanh toán, định giá theo cơ chế quy định tại Điều 22 của Nghị định này.
Thành Dương
Từ ngày 11/11/2026, doanh nghiệp cần lưu ý mức xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực dữ liệu
Trong quá trình chuyển đổi số, dữ liệu ngày càng trở thành nguồn lực quan trọng phục vụ quản lý nhà nước, sản xuất, kinh doanh và phát triển hạ tầng số. Cùng với đó, các hành vi vi phạm liên quan đến dữ liệu cũng ngày càng đa dạng, từ thu thập, tạo lập không đúng quy định đến làm sai lệch, làm mất, làm hư hỏng, chiếm đoạt hoặc phá hoại cơ sở dữ liệu, theo đó, ngày 19/9/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 363/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực dữ liệu, có hiệu lực thi hành từ ngày 11/11/2026.
Nghị định thiết lập hệ thống chế tài đối với các hành vi vi phạm trong quá trình thu thập, tạo lập, quản trị, xử lý và bảo vệ dữ liệu, đồng thời quy định nhiều biện pháp khắc phục hậu quả nhằm bảo đảm an toàn, tính chính xác và toàn vẹn của dữ liệu.
Xử phạt vi phạm ngay từ khâu thu thập, tạo lập dữ liệu
Một trong những nội dung đáng chú ý của Nghị định số 363/2026/NĐ-CP là trách nhiệm bảo vệ dữ liệu được đặt ra ngay từ khâu thu thập, tạo lập.
Theo Điều 8 Nghị định số 363/2026/NĐ-CP, doanh nghiệp vi phạm quy định về thu thập, tạo lập dữ liệu có thể bị xử phạt như sau:
1. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 40.000.000đồng đối với một trong những hành vi: Thu thập, tạo lập dữ liệu mà không được sự đồng ý của chủ thể dữ liệu hoặc chủ sở hữu dữ liệu theo quy định của pháp luật; Không ban hành quy trình thu thập, tạo lập dữ liệu hoặc không thực hiện việc đánh giá, áp dụng các biện pháp bảo vệ dữ liệu trước khi tiến hành thu thập, tạo lập dữ liệu; Không thực hiện việc kiểm tra tính xác thực, bảo đảm chất lượng dữ liệu trong quá trình thu thập, tạo lập dữ liệu.
2. Phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng đối với một trong những hành vi: Cố ý thu thập, tạo lập dữ liệu không đúng với dữ liệu gốc; Cố ý thu thập, tạo lập dữ liệu giả mạo; Thu thập, tạo lập dữ liệu vượt quá phạm vi, mục đích đã thông báo; Hành vi vi phạm tại khoản 1 Điều 8 nêu trên mà dữ liệu thuộc danh mục dữ liệu cốt lõi, dữ liệu quan trọng quốc gia; Hành vi vi phạm tại khoản 1 Điều 8 nêu trên làm rò rỉ thông tin nhạy cảm, làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân hoặc an ninh quốc gia.
Quy định trên cho thấy yêu cầu bảo vệ dữ liệu không chỉ được đặt ra khi dữ liệu đã được đưa vào hệ thống mà phải được thực hiện ngay từ quá trình hình thành dữ liệu, bảo đảm dữ liệu được thu thập, tạo lập đúng quy định, có nguồn gốc rõ ràng, chính xác và đáp ứng yêu cầu về an toàn.
Bảo đảm tính chính xác, toàn vẹn của dữ liệu
Trong suốt quá trình quản trị và khai thác, dữ liệu cần được bảo đảm về tính chính xác, toàn vẹn và an toàn.
Điều 7 Nghị định số 363/2026/NĐ-CP quy định xử phạt đối với các hành vi bị nghiêm cấm trong lĩnh vực dữ liệu, cụ thể:
- Phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây: Giả mạo, cố ý làm sai lệch, làm mất, làm hư hỏng dữ liệu trong cơ sở dữ liệu của cơ quan Đảng, Nhà nước, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự; Cố ý cung cấp dữ liệu sai lệch hoặc không cung cấp dữ liệu theo yêu cầu hợp pháp của cơ quan, người có thẩm quyền; trừ trường hợp quy định tại Điều 16 Nghị định số 363/2026/NĐ-CP.
- Phạt tiền từ 60.000.000 đồng đến 80.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây: Cản trở hoặc ngăn chặn trái pháp luật quá trình xử lý dữ liệu, quản trị dữ liệu của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật; Tấn công, chiếm đoạt, phá hoại cơ sở dữ liệu, hệ thống thông tin phục vụ quản lý, xử lý, quản trị, bảo vệ dữ liệu nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.
Như vậy, phạm vi bảo vệ không chỉ tập trung vào bản thân dữ liệu mà còn bao gồm cơ sở dữ liệu và hệ thống thông tin phục vụ quản lý, xử lý, quản trị, bảo vệ dữ liệu. Việc bảo đảm an toàn dữ liệu vì vậy phải được thực hiện đồng bộ cả về chất lượng dữ liệu và hạ tầng kỹ thuật.
Gắn xử phạt với trách nhiệm khôi phục, khắc phục hậu quả
Nghị định số 363/2026/NĐ-CP không chỉ quy định mức xử phạt mà tùy từng trường hợp cụ thể nêu trên, người vi phạm còn bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung, biện pháp khắc phục hậu quả tương ứng nhằm đưa dữ liệu và hệ thống dữ liệu trở lại trạng thái an toàn, chính xác, phù hợp.
Đối với các hành vi vi phạm liên quan đến dữ liệu trong cơ sở dữ liệu của cơ quan Đảng, Nhà nước, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, doanh nghiệp có thể bị buộc khôi phục dữ liệu, cơ sở dữ liệu hoặc tình trạng ban đầu của dữ liệu.
Đối với hành vi tấn công, chiếm đoạt, phá hoại cơ sở dữ liệu, hệ thống thông tin phục vụ quản lý, xử lý, quản trị, bảo vệ dữ liệu, doanh nghiệp có thể bị buộc áp dụng biện pháp kỹ thuật để bảo đảm an toàn, an ninh dữ liệu; buộc thông báo về sự cố dữ liệu, hậu quả và kết quả khắc phục đến chủ thể dữ liệu và các tổ chức, cá nhân có liên quan; đồng thời gỡ bỏ ứng dụng, phần mềm được sử dụng để thực hiện hành vi vi phạm.
Đối với vi phạm trong thu thập, tạo lập dữ liệu, các biện pháp khắc phục có thể bao gồm buộc ban hành quy trình; xóa, tiêu hủy dữ liệu được thu thập, tạo lập trái quy định; đính chính, hiệu chỉnh, cập nhật dữ liệu được tạo lập sai lệch, giả mạo; áp dụng biện pháp bảo vệ dữ liệu, an toàn dữ liệu và nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm.
Như vậy, cơ chế xử lý vi phạm được thực hiện theo hướng xử phạt hành vi vi phạm và khắc phục hậu quả đối với dữ liệu. Đây là cơ sở để hạn chế tác động của vi phạm, đồng thời bảo đảm dữ liệu được khôi phục, an toàn và chính xác.
Nâng cao trách nhiệm tuân thủ pháp luật về dữ liệu
Nghị định số 363/2026/NĐ-CP quy định chế tài đối với nhiều hành vi vi phạm phát sinh trong quá trình thu thập, tạo lập, quản trị, xử lý và bảo vệ dữ liệu.
Trong bối cảnh dữ liệu ngày càng được kết nối, chia sẻ và khai thác trên quy mô lớn, việc tuân thủ các quy định pháp luật về dữ liệu không chỉ là yêu cầu đối với cơ quan nhà nước mà còn đặt ra trách nhiệm đối với doanh nghiệp và các chủ thể tham gia vào quá trình tạo lập, quản lý, khai thác dữ liệu. Chủ động kiểm soát chất lượng, bảo đảm an toàn và xử lý kịp thời các rủi ro đối với dữ liệu sẽ giúp doanh nghiệp hạn chế những rủi ro phát sinh từ chính quá trình thu thập, tạo lập, quản trị và khai thác nguồn lực dữ liệu.
Hoàng Long
Doanh nghiệp cần nâng cao trách nhiệm bảo vệ dữ liệu cá nhân
trên môi trường mạng
Trong quá trình phát triển kinh tế số, dữ liệu cá nhân ngày càng được sử dụng rộng rãi trong hoạt động quản lý, cung cấp dịch vụ, kinh doanh và tương tác trên môi trường mạng. Tuy nhiên, việc thu thập và khai thác dữ liệu không đúng quy định có thể xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, đồng thời làm phát sinh nhiều nguy cơ về an ninh mạng.
Ngày 19/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 330/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh mạng và bảo vệ dữ liệu cá nhân, có hiệu lực từ ngày 19/8/2026. Nghị định quy định nhiều nhóm hành vi vi phạm và các mức xử phạt tương ứng, đồng thời đặt ra các biện pháp khắc phục hậu quả nhằm nâng cao trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân trong bảo vệ dữ liệu, bảo đảm an toàn trên không gian mạng.
Quy định xử phạt đối với nhiều hành vi liên quan đến sự đồng ý của chủ thể dữ liệu
Theo Điều 43 Nghị định số 330/2026/NĐ-CP, doanh nghiệp vi phạm quy định về sự đồng ý của chủ thể dữ liệu cá nhân có thể bị xử phạt như sau:
Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:
- Xử lý dữ liệu cá nhân sau khi thu thập mà chưa có được sự đồng ý của chủ thể dữ liệu cá nhân, trừ các trường hợp pháp luật có quy định khác;
- Kèm theo điều kiện bắt buộc, từ chối cung cấp dịch vụ nếu chủ thể dữ liệu cá nhân không đồng ý xử lý dữ liệu cá nhân vào các mục đích khác không liên quan đến nội dung thỏa thuận cung cấp dịch vụ đó;
- Thiết lập phương thức mặc định đồng ý, tạo ra các chỉ dẫn không rõ ràng, gây hiểu lầm giữa đồng ý và không đồng ý cho chủ thể dữ liệu cá nhân;
- Việc xin sự đồng ý không được thể hiện bằng phương thức rõ ràng, cụ thể, không bảo đảm khả năng kiểm chứng về việc xác định chủ thể dữ liệu cá nhân đã thực hiện sự đồng ý, thời điểm và nội dung được đồng ý;
- Không cung cấp cho chủ thể dữ liệu cá nhân các thông tin minh bạch về loại dữ liệu cá nhân được xử lý, mục đích xử lý dữ liệu cá nhân, các quyền, nghĩa vụ của chủ thể dữ liệu cá nhân, Bên kiểm soát hoặc Bên kiểm soát và xử lý dữ liệu cá nhân dẫn đến sự đồng ý không dựa trên cơ sở tự nguyện và biết rõ;
- Hình thức xin sự đồng ý không bảo đảm chủ thể dữ liệu cá nhân được đồng ý với từng mục đích xử lý dữ liệu cá nhân;
- Không ghi nhận, không lưu trữ nhật ký về sự đồng ý của chủ thể dữ liệu cá nhân, không chứng minh được đã có sự đồng ý khi có yêu cầu của chủ thể dữ liệu cá nhân hoặc yêu cầu thanh tra, kiểm tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
- Không thông báo cho chủ thể dữ liệu cá nhân biết dữ liệu cá nhân nhạy cảm của họ đang được xử lý.
Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:
- Cố ý tiếp tục thực hiện xử lý dữ liệu cá nhân sau khi chủ thể dữ liệu cá nhân đã có yêu cầu ngừng, hạn chế xử lý hoặc khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu bằng văn bản;
- Thực hiện thu thập, xử lý dữ liệu cá nhân khi chủ thể dữ liệu cá nhân giữ im lặng hoặc không phản hồi trước yêu cầu xin sự đồng ý, tự ý coi sự im lặng là đồng ý.
Không thể miễn trách nhiệm khi sử dụng công nghệ AI
Sự phát triển nhanh chóng của trí tuệ nhân tạo (AI) đang mở ra nhiều cơ hội cho doanh nghiệp, nhưng đồng thời cũng đặt ra những yêu cầu mới về trách nhiệm pháp lý. Việc sử dụng AI để giả mạo hình ảnh, giọng nói hoặc danh tính của người khác nhằm lừa đảo; tạo, phát tán thông tin sai sự thật; xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân hoặc thu thập, phân tích, sử dụng dữ liệu cá nhân trái quy định đều có thể bị xử phạt theo tính chất, mức độ và hành vi vi phạm tương ứng. Đáng lưu ý, doanh nghiệp không thể lấy lý do dữ liệu được xử lý tự động bởi hệ thống AI để loại trừ trách nhiệm. Việc quyết định thu thập dữ liệu, đưa dữ liệu vào hệ thống, xác định mục đích sử dụng và khai thác kết quả xử lý vẫn thuộc trách nhiệm của chủ thể tổ chức hoạt động đó. Doanh nghiệp phải bảo đảm việc ứng dụng AI không làm phát sinh hành vi xử lý dữ liệu cá nhân trái pháp luật.
Trách nhiệm đối với hoạt động trên mạng xã hội
Nghị định số 330/2026/NĐ-CP cũng quy định các nhóm hành vi vi phạm liên quan đến mạng xã hội, thông tin trên không gian mạng, tài khoản số và hoạt động sử dụng không gian mạng trái pháp luật. Ngoài cảnh cáo và phạt tiền, tùy tính chất, mức độ vi phạm, chủ thể vi phạm còn có thể bị áp dụng các hình thức xử phạt bổ sung như tước quyền sử dụng giấy phép có thời hạn từ 01 tháng đến 24 tháng, đình chỉ hoạt động từ 01 tháng đến 24 tháng; Tịch thu tang vật vi phạm hành chính, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính hoặc trục xuất đối với người nước ngoài có hành vi vi phạm hành chính.
Đặc biệt lưu ý khi xử lý dữ liệu trẻ em, dữ liệu nhạy cảm
Dữ liệu trẻ em là nhóm dữ liệu cần được doanh nghiệp đặc biệt quan tâm trong quá trình cung cấp nền tảng, ứng dụng, dịch vụ giáo dục, giải trí, thương mại điện tử và các dịch vụ trực tuyến khác. Khi thu thập, xử lý dữ liệu của trẻ em, doanh nghiệp cần xác định đúng căn cứ xử lý, mục đích sử dụng, phạm vi dữ liệu cần thu thập, sự đồng ý hợp lệ và các biện pháp bảo vệ phù hợp.
Đối với dữ liệu cá nhân nhạy cảm, yêu cầu bảo vệ được đặt ở mức cao hơn. Hành vi không thông báo cho chủ thể dữ liệu cá nhân biết dữ liệu cá nhân nhạy cảm của họ đang được xử lý có thể bị phạt từ 30 triệu đồng đến 50 triệu đồng. Do đó, doanh nghiệp cần chủ động xác định dữ liệu mình đang thu thập, xử lý thuộc nhóm nào; mục đích sử dụng là gì; những chủ thể nào được quyền tiếp cận và các biện pháp kỹ thuật, quản lý nào được áp dụng để bảo vệ dữ liệu.
Không được tự ý sử dụng dữ liệu để quảng cáo
Đối với tin nhắn rác, cuộc gọi rác và hoạt động quảng cáo khi chưa được người dùng đồng ý, Nghị định yêu cầu phải có căn cứ hợp pháp khi sử dụng dữ liệu cá nhân. Doanh nghiệp có thể bị phạt tiền từ 50 triệu đồng đến 70 triệu đồng đối với một trong các hành vi sau: Cố ý tiếp tục thực hiện xử lý dữ liệu cá nhân sau khi chủ thể dữ liệu cá nhân đã có yêu cầu ngừng, hạn chế xử lý hoặc khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu bằng văn bản; Thực hiện thu thập, xử lý dữ liệu cá nhân khi chủ thể dữ liệu cá nhân giữ im lặng hoặc không phản hồi trước yêu cầu xin sự đồng ý, tự ý coi sự im lặng là đồng ý.
Các hành vi như thiết lập mặc định trạng thái đồng ý; thiết kế giao diện hoặc chỉ dẫn khiến người dùng khó phân biệt giữa lựa chọn đồng ý và không đồng ý; không cho phép lựa chọn riêng đối với từng mục đích xử lý; không ghi nhận hoặc lưu trữ được bằng chứng về sự đồng ý có thể bị phạt từ 30 triệu đồng đến 50 triệu đồng. Vì vậy, doanh nghiệp không thể mặc nhiên sử dụng danh sách số điện thoại hoặc các nguồn dữ liệu có sẵn để thực hiện gọi điện, quảng cáo. Trước khi sử dụng, cần kiểm tra nguồn gốc dữ liệu, căn cứ pháp lý, mục đích xử lý và bảo đảm cơ chế để chủ thể dữ liệu thực hiện quyền của mình.
Bên cạnh việc quy định các chế tài xử phạt, Nghị định số 330/2026/NĐ-CP đặt ra yêu cầu cao hơn đối với doanh nghiệp trong việc bảo đảm quyền kiểm soát dữ liệu cá nhân của khách hàng, người lao động và các chủ thể có liên quan. Doanh nghiệp cần chủ động rà soát quy trình thu thập, lưu trữ, sử dụng và chia sẻ dữ liệu; bảo đảm việc xử lý dữ liệu được thực hiện đúng mục đích, đúng phạm vi và trên cơ sở sự đồng ý hợp pháp của chủ thể dữ liệu, đồng thời tôn trọng đầy đủ quyền yêu cầu ngừng, hạn chế xử lý dữ liệu theo quy định.
Việc bảo vệ dữ liệu cá nhân không chỉ là yêu cầu về tuân thủ pháp luật mà còn là yếu tố quan trọng để doanh nghiệp xây dựng uy tín, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng, phòng ngừa nguy cơ dữ liệu bị khai thác, mua bán hoặc sử dụng cho các hoạt động giả mạo, lừa đảo trên không gian mạng. Do đó, doanh nghiệp cần nâng cao trách nhiệm trong quản trị dữ liệu, tăng cường các biện pháp bảo đảm an toàn thông tin, kiểm soát chặt chẽ việc tiếp cận và sử dụng dữ liệu, đồng thời xây dựng văn hóa bảo vệ dữ liệu trong toàn bộ quá trình hoạt động, qua đó củng cố niềm tin của khách hàng và tạo nền tảng cho môi trường kinh doanh an toàn, minh bạch, bền vững.
Thành Dương