TRANG THÔNG TIN PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT

Thành phố Hải Phòng

Thời gian: 17/06/2021 09:18

Hướng dẫn cách tính thời gian theo buổi làm việc thực tế và khoán chi vụ việc trợ giúp pháp lý

 Ngày 25/5/2021, Bộ Tư pháp ban hành Thông tư số 02/2021/TT-BTP hướng dẫn cách tính thời gian theo buổi làm việc thực tế và khoán chi vụ việc trợ giúp pháp lý (sau đây gọi tắt là Thông tư số 02/2021/TT-BTP). Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày 15/7/2021 và thay thế Thông tư số 18/2013/TT-BCA  ngày 20/11/2013.

Hỏi: Thông tư số 02/2021/TT-BTP quy định về phạm vi điều chỉnh và được đối tượng áp dụng như thế nào?

Trả lời:

Thông tư số 02/2021/TT-BTP hướng dẫn cách tính thời gian theo buổi làm việc thực tế và khoán chi vụ việc trợ giúp pháp lý để làm căn cứ chi trả thù lao, bồi dưỡng thực hiện vụ việc trợ giúp pháp lý theo hình thức tham gia tố tụng, đại diện ngoài tố tụng.

Thông tư 02/2021/TT-BTP áp dụng đối với các đối tượng sau: Trợ giúp viên pháp lý; Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý; Tổ chức ký hợp đồng thực hiện trợ giúp pháp lý; Trung tâm trợ giúp pháp lý (TGPL) nhà nước (gọi tắt là Trung tâm), Chi nhánh của Trung tâm (gọi tắt là Chi nhánh); Sở Tư pháp và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan.

Hỏi: Những nguyên tắc cơ bản khi thực hiện khoán chi vụ việc trợ giúp pháp lý?

Trả lời:

- Bảo đảm phù hợp với quy định của pháp luật về thù lao, bồi dưỡng và thủ tục thanh toán thù lao, bồi dưỡng thực hiện vụ việc cho người thực hiện TGPL, tổ chức ký hợp đồng thực hiện TGPL.

- Bảo đảm tính hợp pháp, hợp lý trong việc kê khai thời gian, công việc để làm căn cứ chi trả thù lao, bồi dưỡng thực hiện vụ việc TGPL.

- Khi kê khai thời gian, công việc thực hiện vụ việc trợ giúp pháp lý, người kê khai chịu trách nhiệm về tính xác thực của việc kê khai.

- Khi xác nhận thời gian, công việc của người thực hiện TGPL, người xác nhận chịu trách nhiệm về tính xác thực của việc xác nhận.

Hỏi: Thời gian theo buổi làm việc thực tế được tính như thế nào?

Trả lời:

1. Thời gian theo buổi làm việc thực tế (1/2 ngày làm việc) được áp dụng đối với các vụ việc TGPL theo hình thức tham gia tố tụng, đại diện ngoài tố tụng do người thực hiện TGPL lựa chọn để làm căn cứ chi trả thù lao, bồi dưỡng thực hiện vụ việc.

2. Một buổi làm việc thực tế được tính trên cơ sở 04 giờ làm việc. Trường hợp người thực hiện TGPL làm việc không đủ 04 giờ thì tính như sau:

- Tính thành ½ buổi làm việc nếu số giờ làm việc lẻ không đủ 03 giờ;

- Tính thành 01 buổi làm việc nếu số giờ làm việc lẻ từ đủ 03 giờ trở lên.

3. Khi áp dụng cách tính thời gian theo buổi làm việc thực tế, người thực hiện TGPL phải kê các công việc và thời gian thực hiện các công việc vào Bảng kê thời gian thực tế theo mẫu ban hành kèm theo Thông tư này.

Hỏi: Những căn cứ nào để tính thời gian thực hiện trợ giúp pháp lý đối với vụ việc tham gia tố tụng hình sự?

Trả lời:

Những căn cứ để tính thời gian thực hiện trợ giúp pháp lý đối với vụ việc tham gia tố tụng hình sự bao gồm:

- Tham gia hỏi cung bị can hoặc lấy lời khai của người bị buộc tội, người bị hại, người làm chứng, đương sự trong vụ án hình sự;

- Tham gia đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói, khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, xem xét dấu vết trên thân thể, thực nghiệm điều tra và thực hiện các công việc tham gia tố tụng khác theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng;

- Làm việc với người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng;

- Xác minh, thu thập, đánh giá tài liệu, đồ vật, chứng cứ có liên quan theo các giai đoạn tố tụng;

- Làm việc với người bị buộc tội tại Buồng tạm giữ thuộc Đồn Biên phòng, Nhà tạm giữ, Trại tạm giam, Trại giam;

- Gặp gỡ với người bị buộc tội tại ngoại hoặc người thân thích của người bị buộc tội; bị hại hoặc người thân thích của bị hại; người làm chứng, đương sự trong vụ án hình sự và những người tham gia tố tụng khác;

- Nghiên cứu hồ sơ, sao chụp và chuẩn bị tài liệu tại cơ quan tiến hành tố tụng hoặc tại Trung tâm, Chi nhánh, tổ chức ký hợp đồng thực hiện trợ giúp pháp lý;

- Chuẩn bị luận cứ bào chữa, bảo vệ;

- Tham gia phiên tòa. Trường hợp người thực hiện TGPL đến tham gia phiên tòa nhưng phiên toà hoãn xử mà không phải do yêu cầu của người thực hiện TGPL và không được báo trước thì tính thời gian người thực hiện TGPL làm việc với cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng về nội dung liên quan đến hoãn phiên tòa;

- Thực hiện các công việc liên quan đến thủ tục kháng cáo, kháng nghị bản án sơ thẩm, bản án phúc thẩm, thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm;

- Thực hiện các công việc hợp lý khác theo quy định của pháp luật để phục vụ việc bào chữa, bảo vệ.

Hỏi: Những căn cứ nào để tính thời gian thực hiện trợ giúp pháp lý đối với vụ việc tham gia tố tụng dân sự?

Trả lời:

Những căn cứ để tính thời gian thực hiện trợ giúp pháp lý đối với vụ việc tham gia tố tụng dân sự bao gồm:

- Làm việc với người được TGPL, những người có liên quan để xác định quan hệ pháp luật tranh chấp; đánh giá các điều kiện khởi kiện, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập; tư vấn hướng dẫn viết đơn khởi kiện, đơn yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, đơn phản tố; đơn yêu cầu độc lập, cung cấp chứng cứ cho tòa án; hướng dẫn chuẩn bị hồ sơ khởi kiện hoặc các công việc khác trong giai đoạn khởi kiện và thụ lý vụ án;

- Làm việc với người được TGPL, các đương sự và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan về nguồn gốc, nội dung tranh chấp, chứng cứ chứng minh hoặc các công việc khác trong giai đoạn chuẩn bị xét xử;

- Tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; xác minh, thu thập, đánh giá tài liệu, đồ vật, chứng cứ cần thiết liên quan;

- Tham gia lấy lời khai của đương sự, người làm chứng, những người có liên quan khác; tham gia các hoạt động thẩm định, định giá tài sản và thực hiện các công việc tham gia tố tụng khác theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng;

- Tham gia hòa giải theo quy định của pháp luật;

- Làm việc với người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng theo các giai đoạn tố tụng;

- Gặp gỡ với đương sự, người làm chứng và những người tham gia tố tụng khác về những nội dung khác có liên quan;

- Nghiên cứu hồ sơ, sao chụp và chuẩn bị tài liệu tại cơ quan tiến hành tố tụng hoặc tại Trung tâm, Chi nhánh, tổ chức ký hợp đồng thực hiện TGPL;

- Chuẩn bị luận cứ bảo vệ;

- Tham gia phiên tòa hoặc phiên họp giải quyết việc dân sự. Trường hợp người thực hiện TGPL đến tham gia phiên tòa nhưng phiên toà hoãn xử không phải do yêu cầu của người thực hiện TGPL và không được báo trước thì tính thời gian người thực hiện TGPL làm việc với cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng về nội dung liên quan đến hoãn phiên tòa;

- Thực hiện các công việc liên quan đến thủ tục kháng cáo, kháng nghị bản án sơ thẩm, bản án phúc thẩm, thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm;

- Thực hiện các công việc hợp lý khác theo quy định của pháp luật để phục vụ việc bảo vệ.

Hỏi: Những căn cứ nào để tính thời gian thực hiện trợ giúp pháp lý đối với vụ việc đại diện ngoài tố tụng?

Trả lời:

Những căn cứ nào để tính thời gian thực hiện trợ giúp pháp lý đối với vụ việc đại diện ngoài tố tụng bao gồm:

- Gặp gỡ, tiếp xúc với người được TGPL, người thân thích của họ; người làm chứng;

- Nghiên cứu hồ sơ, chuẩn bị tài liệu để thực hiện việc đại diện;

- Xác minh, thu thập tài liệu, đồ vật, chứng cứ, tình tiết liên quan đến việc đại diện;

- Làm việc với cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan;

- Tham gia đại diện trước cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết vụ việc.

Hỏi: Cách thức xác định thời gian trong một số trường hợp đặc biệt được quy định như thế nào?

Trả lời:

1. Trường hợp 02 người thực hiện TGPL trở lên thực hiện TGPL cho 01 người được TGPL trong cùng một vụ việc theo quy định của pháp luật thì thời gian làm căn cứ chi trả thù lao, bồi dưỡng thực hiện vụ việc TGPL là thời gian thực tế của từng người thực hiện TGPL đã thực hiện nhưng tổng số thời gian không quá 30 buổi làm việc/01 vụ việc đối với vụ việc tham gia tố tụng hoặc không quá 20 buổi làm việc/01 vụ việc đối với vụ việc đại diện ngoài tố tụng.

2. Trường hợp cơ quan tiến hành tố tụng tạm đình chỉ vụ án

- Thời gian làm căn cứ chi trả thù lao, bồi dưỡng thực hiện vụ việc TGPL là thời gian thực tế đã thực hiện đến thời điểm tạm đình chỉ vụ án;

- Khi vụ án tiếp tục được giải quyết thì thời gian làm căn cứ chi trả thù lao, bồi dưỡng thực hiện vụ việc TGPL là thời gian thực tế thực hiện các công việc tiếp theo kể từ khi vụ án tiếp tục giải quyết đến khi kết thúc vụ việc.

3. Trường hợp thay thế, thay đổi người thực hiện trợ giúp pháp lý

- Thời gian làm căn cứ chi trả thù lao, bồi dưỡng thực hiện vụ việc cho người bị thay thế, bị thay đổi là thời gian thực tế mà họ đã thực hiện TGPL đến thời điểm bị thay thế, bị thay đổi;

- Thời gian làm căn cứ chi trả thù lao, bồi dưỡng thực hiện vụ việc cho người được cử thay thế là thời gian thực tế mà họ thực hiện các công việc tiếp theo kể từ khi được cử thay thế.

Nếu người được cử thay thế lựa chọn hình thức khoán chi vụ việc thì thù lao, bồi dưỡng cho cả 02 người (người thay thế và người bị thay thế, bị thay đổi) không quá mức khoán chi vụ việc tương ứng theo quy định tại Thông tư số 02/2021/TT-BTP.

4. Trường hợp thực hiện TGPL cho người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, người bị buộc tội ở thời điểm bắt, tạm giữ người, bị hại theo quy định của pháp luật tố tụng thì thời gian và xác nhận thời gian được thực hiện như sau:

- Thời gian xác minh, thu thập, đánh giá tài liệu, đồ vật, chứng cứ cần thiết có liên quan do cơ quan, tổ chức, cá nhân nơi người thực hiện TGPL đến xác minh, thu thập chứng cứ xác nhận;

- Thời gian tham gia lấy lời khai người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, bị hại hoặc những người có liên quan khác; tham gia các hoạt động đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố cùng với Điều tra viên hoặc Kiểm sát viên do Điều tra viên hoặc Kiểm sát viên xác nhận;

- Thời gian làm việc với người bị buộc tội tại Buồng tạm giữ thuộc Đồn Biên phòng, Nhà tạm giữ, Trại tạm giam do người bị buộc tội hoặc cán bộ Đồn Biên phòng, Nhà tạm giữ, Trại tạm giam hoặc cơ quan tiến hành tố tụng xác nhận;

- Thời gian gặp gỡ người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố hoặc người thân thích của họ; bị hại hoặc người thân thích của bị hại; những người khác có liên quan do những người này xác nhận nhưng tối đa không quá số buổi thực hiện công việc này theo hình thức khoán chi vụ việc quy định tại Thông tư số 02/2021/TT-BTP theo mức của loại tội phạm ít nghiêm trọng.

Hỏi: Hình thức khoán chi vụ việc được áp dụng trong trường hợp nào?

Trả lời:

Hình thức khoán chi vụ việc chỉ áp dụng đối với vụ việc TGPL bằng hình thức tham gia tố tụng do người thực hiện TGPL lựa chọn bằng văn bản ngay sau khi được phân công và không thay đổi trong suốt quá trình thực hiện vụ việc TGPL.

Hỏi: Tính chất phức tạp, yêu cầu tố tụng và nội dung của từng vụ việc cụ thể để xác định mức khoán chi vụ việc được quy định như thế nào?

Trả lời:

Tính chất phức tạp, yêu cầu tố tụng và nội dung của từng vụ việc cụ thể để xác định mức khoán chi vụ việc được quy định như sau:

- Áp dụng quy định về phân loại tội phạm tại khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 ngày 20/6/2017 để xác định mức khoán chi đối với vụ việc tham gia tố tụng hình sự.

Việc phân loại tội phạm phải được áp dụng ngay tại thời điểm lựa chọn hình thức khoán chi vụ việc và căn cứ vào một trong các văn bản đã ban hành của cơ quan tiến hành tố tụng: Quyết định khởi tố bị can, Kết luận điều tra, Cáo trạng, Bản luận tội, Bản án. Trường hợp có nhiều văn bản có tội danh ở các khung hình phạt khác nhau thì áp dụng văn bản có khung hình phạt cao hơn.

- Áp dụng quy định tại khoản 3 Điều 337 Bộ luật Tố tụng Dân sự và quy định tại Điều 5 Thông tư số 09/2018/TT-BTP ngày 21/6/2018 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định tiêu chí xác định vụ việc TGPL phức tạp, điển hình để xác định mức khoán chi vụ việc đối với vụ việc tham gia tố tụng dân sự.

- Áp dụng quy định tại khoản 12 Điều 3 Luật Tố tụng Hành chính và quy định tại Điều 6 Thông tư số 09/2018/TT-BTP ngày 21/6/2018 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định tiêu chí xác định vụ việc TGPL phức tạp, điển hình để xác định mức khoán chi vụ việc đối với vụ việc tham gia tố tụng hành chính.

Hỏi: Pháp luật quy định như thế nào về khoán chi vụ việc trong một số trường hợp đặc biệt?

Trả lời:

Thông tư số 02/2021/TT-BTP quy định khoán chi vụ việc trong một số trường hợp đặc biệt như sau:

1. Trường hợp 02 người thực hiện TGPL trở lên thực hiện TGPL cho 01 người được TGPL trong cùng một vụ việc thì căn cứ các công việc thực tế của mỗi người thực hiện, mức khoán chi vụ việc tối đa bằng 130% mức khoán chi tương ứng quy định tại Thông tư số 02/2021/TT-BTP nhưng không quá 10 mức lương cơ sở.

Ví dụ: A bị truy tố về tội có khung hình phạt thuộc loại tội rất nghiêm trọng, Giám đốc Trung tâm TGPL cử 02 người thực hiện TGPL cho A từ giai đoạn Điều tra đến giai đoạn xét xử sơ thẩm. Căn cứ vào công việc thực tế do 02 người thực hiện TGPL đã làm, mức khoán chi vụ việc tối đa bằng: 130% x 23 buổi = 29,9 buổi. Tuy nhiên, do số buổi này vượt quá 10 mức lương cơ sở nên chỉ được khoán chi vụ việc là 10 mức lương cơ sở.

2. Trường hợp thực hiện TGPL cho 01 người được TGPL bị truy tố 02 tội danh trở lên trong cùng một vụ án thì mức khoán chi vụ việc cho người thực hiện TGPL được thực hiện như sau:

- Nếu 02 tội danh có khung hình phạt thuộc 02 loại tội phạm khác nhau, căn cứ các công việc thực tế đã thực hiện, mức khoán chi vụ việc tối đa bằng 130% mức khoán chi áp dụng đối với vụ việc có khung hình phạt thuộc loại tội phạm cao hơn theo quy định tại Thông tư số 02/2021/TT-BTP nhưng không quá 10 mức lương cơ sở.

Ví dụ: A bị truy tố 02 tội danh: 01 tội danh có khung hình phạt thuộc tội nghiêm trọng, 01 tội danh có khung hình phạt thuộc tội rất nghiêm trọng. Trợ giúp viên pháp lý thực hiện TGPL cho A từ giai đoạn Điều tra đến giai đoạn xét xử sơ thẩm. Căn cứ vào công việc thực tế đã thực hiện, mức khoán chi vụ việc tối đa bằng: 130% x 23 buổi = 29,9 buổi. Tuy nhiên, do số buổi này vượt quá 10 mức lương cơ sở nên chỉ được khoán chi vụ việc là 10 mức lương cơ sở.

- Nếu 02 tội danh có khung hình phạt thuộc cùng 01 loại tội phạm, căn cứ các công việc thực tế đã thực hiện, mức khoán chi vụ việc tối đa bằng 130% mức khoán chi theo quy định tại Thông tư số 02/2021/TT-BTP nhưng không quá 10 mức lương cơ sở.

Ví dụ: B bị truy tố 02 tội danh đều có cùng khung hình phạt thuộc tội rất nghiêm trọng. Trợ giúp viên pháp lý thực hiện TGPL cho B từ giai đoạn Điều tra đến giai đoạn xét xử sơ thẩm. Căn cứ vào công việc thực tế đã thực hiện, mức khoán chi vụ việc tối đa không quá: 130% x 23 buổi = 29,9 buổi. Tuy nhiên, do số buổi này vượt quá 10 mức lương cơ sở nên chỉ được khoán chi vụ việc là 10 mức lương cơ sở.

3. Trường hợp cơ quan tiến hành tố tụng tạm đình chỉ vụ án

- Khoán chi vụ việc của người thực hiện TGPL căn cứ vào công việc thực tế mà người thực hiện TGPL đã thực hiện đến thời điểm tạm đình chỉ;

- Khi vụ án tiếp tục được giải quyết, khoán chi vụ việc của người thực hiện TGPL căn cứ vào công việc mà người thực hiện TGPL đã thực hiện từ khi tiếp tục giải quyết đến khi kết thúc vụ việc.

4. Trường hợp thay thế, thay đổi người thực hiện TGPL

- Khoán chi vụ việc của người bị thay thế, bị thay đổi căn cứ vào công việc thực tế mà người bị thay thế, bị thay đổi đã thực hiện TGPL đến thời điểm bị thay thế, bị thay đổi;

- Khoán chi vụ việc của người được cử thay thế căn cứ vào công việc thực tế mà người này đã thực hiện các công việc tiếp theo kể từ khi được cử thay thế.

Nếu người được cử thay thế lựa chọn hình thức thời gian theo buổi làm việc thực tế thì thù lao, bồi dưỡng cho cả 02 người (người thay thế và người bị thay thế, bị thay đổi) không quá 30 buổi làm việc/01 vụ việc theo quy định tại khoản 1 Điều 13 Nghị định số 144/2017/NĐ-CP của Chính phủ ngày 15/12/2017 quy định chi tiết một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý.

Thịnh Hưng

TRANG THÔNG TIN VỀ PHỔ BIẾN GIÁO DỤC PHÁP LUẬT

Cơ quan chủ quản: UBND thành phố Hải Phòng

Cơ quan quản lý: Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng

Trưởng Ban biên tập: Giám đốc Đỗ Đại Dương

Liên hệ

 Địa chỉ: Số 7 Lạch Tray, Ngô Quyền, Hải Phòng

 Điện thoại: 0225.3846314

 Fax: 0225.3640091

 Email: sotp@haiphong.gov.vn