TRANG THÔNG TIN PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT

Thành phố Hải Phòng

Thời gian: 31/10/2022 14:48

Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng, chống thiên tai, thủy lợi, đê điều

Theo Luật Phòng, chống thiên tai năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2020)Nghị định số 03/2022/NĐ-CP ngày 06/01/2022 của Chính phủ về quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng, chống thiên tai; thủy lợi; đê điều

 

1. Hành vi neo đậu, dừng, đỗ không đúng nơi quy định của tàu thuyền và các phương tiện khác vào công trình phòng, chống thiên tai bị xử lý như thế nào?

Theo khoản 5 Điều 3 Luật Phòng, chống thiên tai năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2020): Công trình phòng, chống thiên tai là công trình do Nhà nước, tổ chức, cá nhân đầu tư xây dựng, bao gồm trạm quan trắc khí tượng, thủy văn, hải văn, địa chấn, cảnh báo thiên tai; công trình đê điều, hồ đập, kè, chống úng, chống hạn, chống xâm nhập mặn, chống sạt lở, chống sụt lún đất, chống lũ quét, chống sét; khu neo đậu tránh trú bão cho tàu thuyền, nhà kết hợp sơ tán dân và công trình khác phục vụ phòng, chống thiên tai.

Việc neo đậu, dừng, đỗ không đúng nơi quy định của tàu thuyền và các phương tiện khác vào công trình phòng, chống thiên tai là một trong những hành vi cản trở sự vận hành của công trình phòng, chống thiên tai. Đây là hành vi bị nghiêm cấm theo quy định.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 8 Nghị định số 03/2022/NĐ-CP, hành vi neo đậu, dừng, đỗ không đúng nơi quy định của tàu thuyền và các phương tiện khác vào công trình phòng, chống thiên tai bị phạt tiền từ 6.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng đối với cá nhân vi phạm và từ 12.000.000 đồng đến 16.000.000 đồng đối với tổ chức vi phạm. Riêng hành vi sử dụng đê, kè bảo vệ đê, cống qua đê làm nơi neo đậu phương tiện, tàu, thuyền, bè, mảng không đúng quy định trong giấy phép hoặc không có giấy phép thì bị phạt từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với cá nhân vi phạm và từ 6.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với tổ chức vi phạm.

 2. Hành vi vi phạm quy định về bảo vệ an toàn công trình phòng, chống thiên tai bị xử lý như thế nào?

Việc thực hiện các hành vi vi phạm về bảo vệ an toàn công trình phòng, chống thiên tai là một trong những hành vi phá hoại, làm hư hại, cản trở sự vận hành của công trình phòng, chống thiên tai bị nghiêm cấm theo quy định tại Điều 12 của Luật Phòng, chống thiên tai năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2020). Tùy theo tính chất, mức độ mà chủ thể vi phạm có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc bị xử phạt vi phạm hành chính. Cụ thể:

* Theo quy định tại Điều 9 Nghị định số 03/2022/NĐ-CP:

- Đối với hành vi làm hư hỏng công trình kè, công trình chống sạt lở, công trình chống sụt lún đất, công trình chống lũ quét, công trình cảnh báo thiên tai gây thiệt hại dưới 100.000.000 đồng bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.

- Đối với hành vi xây dựng công trình xâm phạm công trình kè, công trình chống sạt lở, công trình chống sụt lún đất, công trình chống lũ quét, công trình cảnh báo thiên tai mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự như sau:

+ Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi xây dựng công trình với diện tích dưới 05 m2;

+ Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi xây dựng công trình với diện tích từ 05 m2 đến dưới 10 m2;

+ Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi xây dựng công trình với diện tích từ 10 m2 đến dưới 20 m2;

+ Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với hành vi xây dựng công trình với diện tích từ 20 m2 đến dưới 30 m2;

+ Phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với hành vi xây dựng công trình với diện tích từ 30 m2 trở lên.

Các mức phạt nêu trên áp dụng đối với cá nhân vi phạm, mức phạt tiền đối với tổ chức có hành vi vi phạm bằng 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân. Ngoài ra, các tổ chức cá nhân vi phạm còn bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm và biện pháp khắc phục hậu quả buộc khôi phục tình trạng ban đầu.

* Đối với hành vi vi phạm quy định về bảo vệ an toàn công trình phòng, chống thiên tai với tính chất, mức độ nghiêm trọng còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội vi phạm quy định về bảo vệ an toàn công trình thủy lợi, đê điều và phòng, chống thiên tai; vi phạm quy định về bảo vệ bờ, bãi sông theo quy định tại Điều 238 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

3. Hành vi đổ đất, chất thải, để nguyên liệu, vật liệu, vật tư, phương tiện vào công trình phòng, chống thiên tai bị xử phạt như thế nào?

Điều 10 Nghị định số 03/2022/NĐ-CP quy định hành vi đổ đất, chất thải, để nguyên liệu, vật liệu, vật tư, phương tiện vào công trình kè, công trình chống sạt lở, công trình chống sụt lún đất, công trình chống lũ quét, công trình cảnh báo thiên tai bị phạt tiền như sau:

a) Từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với khối lượng dưới 03 m3;

b) Từ 3.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng đối với khối lượng từ 03 m3 đến dưới 05 m3;

c) Từ 4.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với khối lượng từ 05 m3 đến dưới 10 m3;

d) Từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với khối lượng từ 10 m3 đến dưới 50 m3;

đ) Từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với khối lượng từ 50 m3 đến dưới 200 m3;

e) Từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với khối lượng từ 200 m3 đến dưới 500 m3;

g) Từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với khối lượng từ 500 m3 trở lên.

Các mức phạt nêu trên áp dụng đối với cá nhân vi phạm, mức phạt tiền đối với tổ chức có hành vi vi phạm bằng 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân. Ngoài ra, các tổ chức cá nhân vi phạm còn bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả buộc khôi phục tình trạng ban đầu.

4. Ban Chỉ huy Phòng chống thiên tai, tìm kiếm cứu nạn và phòng thủ dân sự tỉnh A đã có Công điện cấm các phương tiện ra khơi tại vùng biển tỉnh A do cơn bão số 02 đổ bộ. Tuy nhiên, một số phương tiện, tàu thuyền đang hoạt động trên biển không cung cấp thông tin về vị  trí, tình trạng; trì hoãn không đưa phương tiện, tàu thuyền vào nơi neo đậu an toàn. Hành vi này bị xử phạt như thế nào?

Hành vi chống đối, cản trở, cố ý trì hoãn hoặc không chấp hành sự chỉ đạo, chỉ huy phòng, chống thiên tai của cơ quan hoặc người có thẩm quyền là một trong những hành vi bị nghiêm cấm theo quy định tại Điều 12 Luật Phòng, chống thiên tại năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2020).

Điều 12 Nghị định số 03/2022/NĐ-CP quy định về xử phạt đối với hành vi vi phạm quy định trong triển khai ứng phó với thiên tai như sau:

1. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi không chấp hành sự chỉ đạo, chỉ huy phòng, chống thiên tai của cơ quan hoặc người có thẩm quyền trừ quy định tại khoản 3 Điều này.

2. Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng đối với hành vi không cung cấp hoặc cung cấp thông tin sai lệch về vị trí, tình trạng của phương tiện tàu, thuyền đang hoạt động trên biển, sông, hồ, kênh, rạch, đầm, phá cho chính quyền địa phương, cơ quan chức năng khi có thiên tai.

3. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi không chấp hành sự chỉ đạo, chỉ huy phòng, chống thiên tai của người có thẩm quyền đối với chủ phương tiện, tàu thuyền đang hoạt động trên biển, sông, hồ, kênh, rạch, đầm, phá.

Như vậy, đối với chủ phương tiện, tàu thuyền không cung cấp thông tin hành vi không cung cấp hoặc cung cấp thông tin sai lệch về vị trí, tình trạng của phương tiện tàu, thuyền đang hoạt động trên biển cho chính quyền địa phương, cơ quan chức năng khi có thiên tai sẽ bị phạt từ 15.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng; các chủ phương tiện, tàu thuyền có ý trì hoãn không đưa phương tiện, tàu thuyền vào nơi neo đậu an toàn theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền có thể bị phạt từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.

5. Hành vi vi phạm quy định về cứu hộ, cứu nạn trong phòng, chống thiên tai bị xử phạt hành chính như thế nào?

Cứu hộ, cứu nạn là công tác đặc biệt không thể thiếu để đảm bảo an toàn cho người gặp nạn trong thời điểm gặp thiên tai. Các hành vi vi phạm quy định về cứu hộ, cứu nạn trong phòng, chống thiên tai sẽ bị xử phạt theo quy định tại Điều 13 Nghị định 03/2022/NĐ-CP. Cụ thể như sau:

Thứ nhất, phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi biết người khác gặp nạn nhưng không thông tin kịp thời để lực lượng chức năng đến cứu nạn trên biển, đầm, phá, sông, suối, ao, hồ, kênh, rạch.

Thứ hai, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi không cứu người, phương tiện bị nạn trên biển, đầm, phá, sông, suối, ao, hồ, kênh, rạch mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, trừ trường hợp không đủ điều kiện hoặc bất khả kháng.

Thứ ba, phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với hành vi yêu cầu cứu hộ, cứu nạn nhưng không hợp tác khi lực lượng cứu hộ, cứu nạn tiếp cận.

Thứ tư, phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với hành vi báo nạn giả để yêu cầu cứu hộ đối với phương tiện, tàu thuyền đang hoạt động trên biển, trên sông, trên hồ.

6. Trong đợt lũ lụt tại tỉnh N vừa qua, một số người dân đã cố ý kê khai tăng thiệt hại về tài sản so với thực tế để được nhận tiền cứu trợ. Hành vi này có bị xử phạt không? Mức phạt cụ thể như thế nào?

Theo khoản 1 Điều 14 Nghị định số 03/2022/NĐ-CP, hành vi cố ý kê khai, báo cáo sai sự thật về thiệt hại do thiên tai gây ra sẽ bị phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng. Bên cạnh đó, người vi phạm còn bị buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do hành vi kê khai sai sự thật.

7. Vừa qua, người dân xã M bị thiệt hại nặng nề do ảnh hưởng của cơn bão lũ và rét đậm, rét hại. Do vậy, Ủy ban nhân dân xã M được hỗ trợ tiền để khôi phục sản xuất nông nghiệp bị thiệt hại do mưa lũ và hỗ trợ giống cây trồng để khôi phục sản xuất cho người dân. Tiền hỗ trợ được chuyển cho người dân thông qua các trưởng thôn. Tuy nhiên, ông T trưởng thôn A sau khi nhận tiền hỗ trợ không kịp thời chuyển tiền hỗ trợ cho người dân trong thôn theo quy định. Hành vi của ông T bị xử lý như thế nào?

Việc hỗ trợ khẩn cấp để đảm bảo những nhu cầu sinh hoạt tức thời cũng như những hình thức hỗ trợ trung hạn, dài hạn sẽ giúp người dân khắc phục khó khăn, trở lại cuộc sống bình thường sau mỗi lần thiên tai đi qua là hết sức cần thiết và phải bảo đảm kịp thời, đúng đối tượng. Để xử lý nghiêm những cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm trong hoạt động cứu trợ thiên tai, khoản 2 Điều 14 Nghị định số 03/2022/NĐ-CP quy định phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

- Sử dụng sai mục đích, làm thất thoát tiền, hàng cứu trợ, cứu trợ không đúng đối tượng mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự;

- Chiếm đoạt hàng cứu trợ mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự;

- Thực hiện nhiệm vụ cứu trợ không kịp thời.

Như vậy, theo quy định nêu trên, ông T có thể bị phạt từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng do có hành vi thực hiện nhiệm vụ cứu trợ không kịp thời. Ngoài ra, ông T buộc tiếp tục thực hiện hoạt động cứu trợ cho người dân.

8. Đề nghị cho biết doanh nghiệp và người lao động có bắt buộc phải đóng quỹ phòng, chống thiên tai không? Nếu không đóng quỹ thì bị xử lý như thế nào?

Theo Điều 10 Luật Phòng, chống thiên tại năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) và Điều 3 Nghị định số 78/2021/NĐ-CP ngày 01/8/2021 của Chính phủ về thành lập và quản lý Quỹ phòng, chống thiên tai: Quỹ phòng, chống thiên tai là quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách có tư cách pháp nhân, con dấu riêng và được mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước và các ngân hàng thương mại hoạt động hợp pháp tại Việt Nam.

 Điều 12 Nghị định số 78/2021/NĐ-CP quy định đối tượng bắt buộc và mức đóng vào Quỹ phòng, chống thiên tai như sau:

- Tổ chức kinh tế trong nước và nước ngoài tại địa bàn: Một năm đóng góp 0,02% trên tổng giá trị tài sản hiện có theo báo cáo tài chính lập ngày 31/12 hàng năm của tổ chức báo cáo cơ quan Thuế nhưng tối thiểu 500 nghìn đồng, tối đa 100 triệu đồng và được hạch toán vào chi phí hoạt động sản xuất kinh doanh của tổ chức.

- Công dân Việt Nam từ đủ 18 tuổi đến hết tuổi lao động theo quy định của pháp luật:

+ Cán bộ, công chức, viên chức, người hưởng lương, phụ cấp và người lao động làm việc trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị sự nghiệp của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội và hội được ngân sách nhà nước hỗ trợ kinh phí hoạt động ở Trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc Trung ương (cấp huyện), ở xã, phường, thị trấn (cấp xã), ở đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt và lực lượng vũ trang đóng một phần hai của mức lương cơ sở chia cho số ngày làm việc trong tháng.

+ Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động trong các doanh nghiệp đóng một phần hai của mức lương tối thiểu vùng chia cho số ngày làm việc trong tháng theo hợp đồng lao động.

Người lao động giao kết nhiều hợp đồng với nhiều doanh nghiệp chỉ phải đóng 01 lần theo 01 hợp đồng lao động có thời gian dài nhất.

+ Người lao động khác, ngoài các đối tượng trên đóng góp 10.000 đồng/người/năm.

Như vậy, các tổ chức kinh tế trong nước và nước ngoài, công dân Việt Nam từ đủ 18 tuổi đến hết tuổi lao động trong điều kiện lao động bình thường có nghĩa vụ đóng Quỹ phòng chống thiên tai.

Đối với các trường hợp doanh nghiệp và người lao động không đóng Quỹ phòng chống thiên tai, căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 17 Nghị định số 03/2022/NĐ-CP sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính như sau:

- Phạt tiền từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng đối với hành vi không đóng Quỹ phòng, chống thiên tai dưới 300.000 đồng;

- Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với hành vi không đóng Quỹ phòng, chống thiên tai từ 300.000 đồng đến dưới 500.000 đồng;

- Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi không đóng Quỹ phòng, chống thiên tai từ 500.000 đồng đến dưới 3.000.000 đồng;

- Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi không đóng Quỹ phòng, chống thiên tai từ 3.000.000 đồng đến dưới 5.000.000 đồng;

- Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng đối với hành vi không đóng Quỹ phòng, chống thiên tai từ 5.000.000 đồng đến dưới 10.000.000 đồng;

- Phạt tiền từ 8.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng đối với hành vi không đóng Quỹ phòng, chống thiên tai từ 10.000.000 đồng đến dưới 20.000.000 đồng;

- Phạt tiền từ 12.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi không đóng Quỹ phòng, chống thiên tai từ 20.000.000 đồng đến dưới 40.000.000 đồng;

- Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi không đóng Quỹ phòng, chống thiên tai từ 40.000.000 đồng đến dưới 60.000.000 đồng;

- Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với hành vi không đóng Quỹ phòng, chống thiên tai từ 60.000.000 đồng đến dưới 80.000.000 đồng;

- Phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với hành vi không đóng Quỹ phòng, chống thiên tai từ 80.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng.

Mức phạt trên áp dụng đối với cá nhân vi phạm, mức phạt tiền đối với tổ chức bằng 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân.

Căn cứ quy định nêu trên, trường hợp doanh nghiệp không đóng Quỹ phòng, chống thiên tai có thể bị phạt tiền từ 16.000.000 đồng đến 24.000.000 đồng. Đối với người lao động, nếu không đóng quỹ có thể bị phạt tiền từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng và bị buộc phải đóng Quỹ phòng, chống thiên tai.

9. Hành vi gây cản trở dòng chảy của công trình thủy lợi bị xử phạt như thế nào?

Theo quy định tại Điều 19 Nghị định số 03/2022/NĐ-CP, hành vi gây cản trở dòng chảy của công trình thủy lợi sẽ bị xử lý như sau:

- Phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với một trong các hành vi trồng rau, cắm đăng đó, chất chà và các hình thức đánh bắt khác gây cản trở dòng chảy.

- Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với một trong các hành vi ngâm tre, luồng, nứa, lá, gỗ hoặc tạo các vật cản khác gây cản trở dòng chảy.

Mức phạt trên áp dụng đối với cá nhân vi phạm, mức phạt tiền đối với tổ chức bằng 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân. Ngoài ra, cơ quan có thẩm quyền còn yêu cầu người vi phạm tháo dỡ, di chuyển các vật chất làm cản trở dòng chảy và buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu của công trình thủy lợi.

(Hết phần 1)

Huy Hưng

Lượt truy cập: 555565
Trực tuyến: ...

TRANG THÔNG TIN VỀ PHỔ BIẾN GIÁO DỤC PHÁP LUẬT

Cơ quan chủ quản: UBND thành phố Hải Phòng

Cơ quan quản lý: Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng

Trưởng Ban biên tập: Giám đốc Đỗ Đại Dương

Liên hệ

 Địa chỉ: Số 7 Lạch Tray, Ngô Quyền, Hải Phòng

 Điện thoại: 0225.3846314

 Fax: 0225.3640091

 Email: sotp@haiphong.gov.vn