Ngày 09/10/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 385/2026/NĐ-CP về kiểm soát thủ tục hành chính, có hiệu lực từ ngày 10/10/2026, theo đó, kiểm soát thủ tục hành chính không chỉ được thực hiện trong quá trình giải quyết hồ sơ mà phải bắt đầu ngay từ khâu đề xuất chính sách, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật.
Kiểm soát thủ tục hành chính từ sớm, xuyên suốt quá trình thực hiện
Nghị định số 385/2026/NĐ-CP quy định về kiểm soát việc quy định, thực hiện, rà soát, đánh giá thủ tục hành chính và quản lý Cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính.
Đối tượng áp dụng gồm cơ quan hành chính nhà nước ở trung ương, người có thẩm quyền, cơ quan trung ương được tổ chức theo hệ thống ngành dọc đóng tại địa phương, chính quyền địa phương, cá nhân, tổ chức trong hoạt động kiểm soát thủ tục hành chính.
Theo Nghị định, kiểm soát thủ tục hành chính phải bảo đảm thực hiện có hiệu quả mục tiêu cải cách thủ tục hành chính, cải cách hành chính; bảo đảm sự tham gia của cá nhân, tổ chức và các bên có liên quan trong quá trình xây dựng, thực hiện và đánh giá thủ tục hành chính.
Kịp thời phát hiện để bãi bỏ hoặc sửa đổi, bổ sung thủ tục hành chính không phù hợp, phức tạp, phiền hà; bảo đảm các thủ tục hành chính được ban hành đúng quy định, đơn giản, dễ hiểu, dễ thực hiện, tiết kiệm thời gian, chi phí, công sức của đối tượng thực hiện và cơ quan thực hiện thủ tục hành chính.
Kiểm soát thủ tục hành chính được thực hiện ngay từ khi đề xuất chính sách, soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật và được tiến hành thường xuyên, liên tục trong quá trình tổ chức thực hiện thủ tục hành chính.
Kiểm soát thủ tục hành chính phải gắn với chuyển đổi số và quản trị dữ liệu, bảo đảm khai thác, kết nối, chia sẻ và tái sử dụng dữ liệu trong toàn bộ quá trình giải quyết thủ tục hành chính.
Xác định rõ trách nhiệm quản lý công tác kiểm soát thủ tục hành chính
Điều 5 Nghị định số 385/2026/NĐ-CP quy định Bộ Tư pháp là cơ quan giúp Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về kiểm soát thủ tục hành chính.
Cục Kiểm soát thủ tục hành chính thuộc Bộ Tư pháp có chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Tư pháp thực hiện quản lý nhà nước về công tác kiểm soát thủ tục hành chính.
Tổ chức pháp chế hoặc Văn phòng của bộ, cơ quan ngang bộ có chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ thực hiện quản lý nhà nước về công tác kiểm soát thủ tục hành chính trong phạm vi ngành, lĩnh vực quản lý.
Văn phòng Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có chức năng tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện công tác kiểm soát thủ tục hành chính tại địa phương.
Trung tâm Phục vụ hành chính công thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã có chức năng tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp xã, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức thực hiện công tác kiểm soát thủ tục hành chính tại địa bàn xã. Trường hợp địa phương tổ chức theo mô hình Trung tâm Phục vụ hành chính công một cấp thì Văn phòng Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân có chức năng tham mưu giúp Ủy ban nhân dân cấp xã, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức thực hiện công tác kiểm soát thủ tục hành chính tại địa bàn xã.
Hoàn thiện quy định thủ tục hành chính theo hướng đơn giản, minh bạch và nguyên tắc số hoá
Điều 6 Nghị định số 385/2026/NĐ-CP yêu cầu thủ tục hành chính được quy định trong văn bản quy phạm pháp luật phải tuân thủ các nguyên tắc sau đây:
- Bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, thống nhất, đồng bộ, hiệu quả, không trái với điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên;
- Minh bạch, đơn giản, dễ hiểu và dễ thực hiện;
- Tiết kiệm thời gian và chi phí của cơ quan, tổ chức và cá nhân;
- Bảo đảm quyền bình đẳng của các đối tượng thực hiện thủ tục hành chính;
- Bảo đảm tính liên thông giữa các thủ tục hành chính liên quan, thực hiện phân công, phân cấp rõ ràng, minh bạch, hợp lý;
- Bảo đảm quy định đầy đủ, cụ thể các bộ phận cấu thành của thủ tục hành chính theo quy định;
- Bảo đảm nguyên tắc số hóa, sử dụng, kết nối liên thông dữ liệu, định danh điện tử, chỉ cung cấp thông tin một lần trong giải quyết thủ tục hành chính.
Cơ quan lập đề xuất chính sách, cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm đánh giá tác động thủ tục hành chính nếu giải pháp thực hiện chính sách, dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật có quy định thủ tục hành chính.
Quy định thủ tục hành chính làm hạn chế quyền tự do kinh doanh, cạnh tranh bình đẳng của cá nhân, tổ chức, ảnh hưởng đến quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, sức khỏe cộng đồng, môi trường, thì các quy định về yêu cầu, điều kiện của thủ tục hành chính phải được quy định tại văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền ban hành của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ.
Một thủ tục hành chính phải bảo đảm đầy đủ các bộ phận cấu thành cơ bản
Nghị định cũng xác định các thành phần cơ bản cần có khi quy định một thủ tục hành chính, bao gồm: tên thủ tục; trình tự và cách thức thực hiện; thành phần, số lượng hồ sơ; thời hạn giải quyết; đối tượng thực hiện và cơ quan giải quyết thủ tục hành chính.
Tùy theo tính chất của từng thủ tục, các thành phần như mẫu đơn, mẫu tờ khai, kết quả giải quyết, yêu cầu, điều kiện, phí và lệ phí cũng phải được quy định đầy đủ khi phát sinh. Trường hợp các thành phần của thủ tục chưa được quy định đầy đủ trong cùng một văn bản, cơ quan có thẩm quyền phải được giao trách nhiệm bổ sung quy định cụ thể, bảo đảm tính đầy đủ và thống nhất về thời điểm có hiệu lực của các quy định liên quan.
Bên cạnh việc chuẩn hóa nội dung, quy định thủ tục hành chính còn phải bảo đảm quyền lựa chọn phương thức thực hiện của cá nhân, tổ chức; ưu tiên giải quyết trên môi trường điện tử và tạo điều kiện để người dân, doanh nghiệp thực hiện thủ tục không bị giới hạn bởi địa giới hành chính. Tên thủ tục hành chính; Trình tự thực hiện; Cách thức thực hiện; Thành phần, số lượng hồ sơ; Thời hạn giải quyết; Đối tượng thực hiện thủ tục hành chính; Cơ quan giải quyết thủ tục hành chính;
Trường hợp thủ tục hành chính phải có mẫu đơn, mẫu tờ khai hành chính; kết quả thực hiện thủ tục hành chính; yêu cầu, điều kiện; phí, lệ phí thì mẫu đơn, mẫu tờ khai hành chính; kết quả thực hiện thủ tục hành chính; yêu cầu, điều kiện; phí, lệ phí là bộ phận cấu thành của thủ tục hành chính.
Trường hợp không quy định đầy đủ, cụ thể các bộ phận cấu thành thủ tục hành chính trong một văn bản thì phải giao cơ quan, người có thẩm quyền quy định để bảo đảm đầy đủ, cụ thể các bộ phận cấu thành của thủ tục hành chính và bảo đảm có hiệu lực cùng thời điểm có hiệu lực của văn bản giao quy định thủ tục hành chính hoặc thời điểm có hiệu lực của quy định thủ tục hành chính.
Quy định thủ tục hành chính phải bảo đảm quyền lựa chọn cách thức thực hiện của cá nhân, tổ chức, trong đó, ưu tiên thực hiện được trên môi trường điện tử, thực hiện không phụ thuộc vào địa giới hành chính.
Với những yêu cầu trên, Nghị định số 385/2026/NĐ-CP đặt ra khuôn khổ kiểm soát thủ tục hành chính xuyên suốt từ xây dựng chính sách đến tổ chức thực hiện, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu cải cách gắn với chuyển đổi số, khai thác dữ liệu và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp.
Duy Khánh