Ngày 26/11/2025, Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua Luật Tương trợ tư pháp về hình sự năm 2025 (sau đây viết tắt là Luật); Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026.
Theo Điều 3 của Luật thì Tương trợ tư pháp về hình sự là việc Việt Nam và nước ngoài, thông qua các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, hỗ trợ nhau trong việc thực hiện các hoạt động xác minh, điều tra, thu thập chứng cứ hoặc thực hiện các hoạt động khác nhằm phục vụ giải quyết vụ việc, vụ án hình sự, thi hành án.
Quy định nguyên tắc tương trợ tư pháp về hình sự:
Tương trợ tư pháp về hình sự được thực hiện trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng và các bên cùng có lợi, phù hợp với Hiến pháp, pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế có liên quan mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
Trường hợp Việt Nam và nước ngoài không cùng là thành viên của điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp về hình sự thì việc tương trợ tư pháp về hình sự được thực hiện theo nguyên tắc có đi có lại nhưng không trái pháp luật Việt Nam, phù hợp với pháp luật quốc tế và tập quán quốc tế.
Quy định áp dụng nguyên tắc có đi có lại trong tương trợ tư pháp về hình sự:
Viện Kiểm sát nhân dân tối cao quyết định việc tiếp cận, xử lý yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự của nước ngoài và việc gửi yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự của Việt Nam theo nguyên tắc có đi có lại.
Trường hợp cần thiết, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao lấy ý kiến của Bộ Ngoại giao và các cơ quan có liên quan trước khi quyết định.
Quy định về phạm vi tương trợ tư pháp về hình sự, bao gồm:
Tống đạt, giao, gửi văn bản tố tụng;
Khám xét, thu giữ;
Tịch thu, trả lại, xử lý vật chứng, tài sản;
Tổ chức cho người ở nước được yêu cầu sang nước yêu cầu để hỗ trợ điều tra, cung cấp chứng cứ;
Tổ chức cho người có thẩm quyền ở nước yêu cầu sang nước được yêu cầu để có mặt trong quá trình thực hiện tương trợ tư pháp về hình sự;
Chuyển giao tạm thời người đang bị tạm giam hoặc đang chấp hành án phạt tù ở nước được yêu cầu sang nước yêu cầu để hỗ trợ điều tra, cung cấp chứng cứ;
Lấy lời khai trực tiếp, trực tuyến và các hình thức thu thập, cung cấp chứng cứ khác;
Chuyển giao truy cứu trách nhiệm hình sự;
Trao đổi thông tin;
Các hình thức tương trợ khác.
Chi phí thực hiện yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự:
Trường hợp Việt Nam và nước ngoài cùng là thành viên của điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp về hình sự thì chi phí trong tương trợ tư pháp về hình sự được thực hiện theo điều ước quốc tế.
Trường hợp Việt Nam và nước ngoài không cùng là thành viên của điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp về hình sự, nếu không có thỏa thuận khác thì chi phí trong tương trợ tư pháp về hình sự do nước được yêu cầu chi trả, trừ những trường hợp sau đây do nước yêu cầu chi trả:
Chi phí cho việc đưa người đến hoặc đưa người đi và chi phí mà người đó có thể được hưởng trong thời gian thực hiện yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự trong trường hợp: Tổ chức cho người ở nước được yêu cầu sang nước yêu cầu để hỗ trợ điều tra, cung cấp chứng cứ; Tổ chức cho người có thẩm quyền ở nước yêu cầu sang nước được yêu cầu để có mặt trong quá trình thực hiện tương trợ tư pháp về hình sự; Chuyển giao tạm thời người đang bị tạm giam hoặc đang chấp hành án phạt tù ở nước được yêu cầu sang nước yêu cầu để hỗ trợ điều tra, cung cấp chứng cứ.
Chi phí cho người làm nhiệm vụ áp giải, dẫn giải hoặc hộ tống;
Chi phí giám định;
Chi phí phiên dịch, biên dịch, sao chép tài liệu;
Chi phí thu nhập chứng cứ qua cầu truyền hình hoặc các phương tiện kỹ thuật khác;
Các chi phí khác phát sinh mà nước được yêu cầu đề nghị nước yêu cầu chi trả.
Nguồn kinh phí: Kinh phí cho công tác tương trợ tư pháp về hình sự do ngân sách nhà nước bảo đảm theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước và quy định khác của pháp luật có liên quan.
Bên cạnh đó, Luật còn quy định về trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong tương trợ tư pháp về hình sự, bao gồm:
Viện Kiểm sát nhân dân tối cao thống nhất quản lý hoạt động tương trợ tư pháp về hình sự trong phạm vi cả nước; báo cáo Quốc hội về công tác tương trợ tư pháp về hình sự trong báo cáo công tác hằng năm; hướng dẫn cơ quan có thẩm quyền thực hiện tương trợ tư pháp về hình sự và thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác của Cơ quan trung ương của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong tương trợ tư pháp về hình sự.
Chính phủ phối hợp với Viện Kiểm sát nhân dân tối cao trong việc thực hiện quản lý hoạt động tương trợ tư pháp về hình sự; chỉ đạo các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ trong hoạt động tương trợ tư pháp về hình sự.
Viện Kiểm sát thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tương trợ tư pháp về hình sự; các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng khác, cơ quan thi hành án và cơ quan khác có liên quan, trong phạm vi nhiêm vụ, quyền hạn của mình, thực hiện tương trợ tư pháp về hình sự theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan.
Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao chủ trì, phối hợp với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Tư pháp và Bộ trưởng Bộ Ngoại giao quy định việc phối hợp thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Viện Kiểm sát và các cơ quan đối với hoạt động thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tương trợ tư pháp về hình sự.
Tòa án nhân dân tối cao, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, có trách nhiệm phối hợp với Viện Kiểm sát nhân dân tối cao trong việc thực hiện quản lý hoạt động tương trợ tư pháp về hình sự.
NQ