“Chủ động thực thi; phát huy động lực; tăng trưởng bứt phá”
Thời gian: 15/09/2026 09:13

Nghị quyết số 23-NQ/TW về công tác người Việt Nam ở nước ngoài: Từ thay đổi nhận thức đến đổi mới quản trị, phát huy nguồn lực và cầu nối quốc gia

Trong tiến trình hội nhập quốc tế, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài trở thành một bộ phận có ý nghĩa quan trọng đối với sức mạnh tổng hợp và vị thế quốc gia. Hiện nay, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài đã có sự phát triển lớn mạnh cả về quy mô, chất lượng cũng như vị thế của mình. Việc ban hành Nghị quyết mới về công tác này góp phần không nhỏ trong việc huy động mạnh mẽ hơn các nguồn lực của cộng đồng phục vụ phát triển đất nước trong giai đoạn mới. Ngày 02/8/2026, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 23-NQ/TW về công tác người Việt Nam ở nước ngoài (thay thế Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 26/3/2004) có nhiều ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn.

1. Về hoàn thiện thể chế và mở rộng cơ hội tham gia của người Việt Nam ở nước ngoài

Một trong những điểm nổi bật của Nghị quyết số 23-NQ/TW là đặt vấn đề hoàn thiện cơ chế, chính sách ở vị trí trung tâm trong việc phát huy nguồn lực người Việt Nam ở nước ngoài. Nghị quyết yêu cầu: “Tiếp tục rà soát, sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật liên quan đến người Việt Nam ở nước ngoài theo hướng đồng bộ, minh bạch, ổn định, kiến tạo, phục vụ”. Đây là một định hướng có ý nghĩa quan trọng về mặt thể chế. Nếu như trước đây chính sách đối với người Việt Nam ở nước ngoài thường được nhìn nhận dưới góc độ giải quyết các vấn đề cụ thể của cộng đồng thì tại Nghị quyết số 23-NQ/TW yêu cầu được đặt lên cao hơn, cụ thể: hệ thống chính sách phải trở thành hạ tầng thể chế để thu hút, kết nối và phát huy nguồn lực. Điều này đặc biệt quan trọng bởi nguồn lực của cộng đồng ở nước ngoài không chỉ là vốn, tài chính mà còn bao gồm tri thức, công nghệ, mạng lưới quan hệ quốc tế, kinh nghiệm quản trị, năng lực đổi mới sáng tạo, thị trường và khả năng kết nối Việt Nam với thế giới. Trong giai đoạn mới, việc phát huy nguồn lực người Việt Nam ở nước ngoài đặt ra yêu cầu cần tiếp tục hoàn thiện thể chế theo hướng loại bỏ những rào cản không cần thiết, giảm chi phí giao dịch, nâng cao tính minh bạch và khả năng dự đoán của chính sách, qua đó củng cố niềm tin và tạo điều kiện để người Việt Nam ở nước ngoài tham gia lâu dài vào quá trình xây dựng và phát triển đất nước.

 Điều này phù hợp với tinh thần của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quốc tịch Việt Nam số 79/2025/QH15 ngày 24/6/2025; theo đó Quốc hội đã mở rộng, điều chỉnh một số quy định liên quan đến người có quốc tịch Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài. Việc sửa đổi Luật Quốc tịch nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn cho cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài khi thực hiện các thủ tục liên quan đến quốc tịch, qua đó góp phần tăng cường đại đoàn kết và thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao. Như vậy, Nghị quyết số 23-NQ/TW chính là sự tiếp nối của quá trình hoàn thiện thể chế đã được triển khai trong những năm gần đây. Đồng thời, Nghị quyết có sự phát triển so với Nghị quyết số 36-NQ/TW: từ tạo thuận lợi về chính sách đến kiến tạo không gian để người Việt Nam ở nước ngoài tham gia một cách thực chất đối với các công việc của quê hương, đất nước.

Mở rộng cơ hội tham gia của người Việt Nam ở nước ngoài vào đời sống chính trị - kinh tế - xã hội là điểm mới quan trọng của Nghị quyết số 23-NQ/TW so với Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 26/3/2004. Không chỉ dừng ở việc tạo điều kiện đầu tư, kinh doanh hay chuyển giao tri thức mà Nghị quyết số 23-NQ/TW yêu cầu: “Hoàn thiện cơ chế, tạo thuận lợi để người Việt Nam ở nước ngoài tham gia tích cực, có trách nhiệm vào đời sống chính trị - kinh tế - xã hội của đất nước”. Đặc biệt, Nghị quyết đề cập việc tạo điều kiện để người Việt Nam ở nước ngoài “trở thành thành viên của một số tổ chức chính trị - xã hội ở trong nước”, tham gia đóng góp ý kiến xây dựng chủ trương, đường lối, chính sách và tham gia các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Đây là một định hướng đáng chú ý về mở rộng không gian tham gia của cộng đồng.

Có thể khái quát sự phát triển trong nhận thức và tư duy của Đảng về vị trí, vai trò của người Việt Nam ở nước ngoài thể hiện ở những quan điểm cơ bản: (i). Từ đối tượng “được thụ hưởng chính sách” sang “tham gia vào quá trình chính sách”. Người Việt Nam ở nước ngoài không chỉ là đối tượng được Nhà nước hỗ trợ, bảo hộ hay tạo điều kiện, mà còn được đặt vào vị trí có thể đóng góp ý kiến xây dựng chính sách. (ii). Từ “đóng góp nguồn lực” sang “tham gia đồng hành”. Sự đóng góp của người Việt Nam ở nước ngoài không chỉ là đầu tư vốn hoặc chuyển tiền về nước mà có thể thông qua nghiên cứu, tư vấn chính sách, chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực, kết nối thị trường, xây dựng mạng lưới quốc tế. (iii). Từ “tham gia theo chương trình” sang hình thành cơ chế tham gia thường xuyên. Nghiên cứu Nghị quyết số 23-NQ/TW cho thấy: Định hướng xây dựng mạng lưới hệ sinh thái kết nối bền vững các chuyên gia, trí thức, nhà khoa học, doanh nhân, văn nghệ sĩ và thế hệ trẻ người Việt Nam toàn cầu cho thấy mục tiêu không phải là những hoạt động kết nối mang tính thời điểm mà hướng tới một hệ sinh thái hợp tác lâu dài. Đây là sự chuyển đổi từ chính sách hỗ trợ cộng đồngsang chính sách huy động và đồng kiến tạo nguồn lực.

2. Về nhận thức và vị thế của người Việt Nam ở nước ngoài: Từ “đồng bào ở xa Tổ quốc” đến “nguồn lực chiến lược và cầu nối quốc gia”

Tiếp tục kế thừa quan điểm cốt lõi: “Người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không tách rời của cộng đồng các dân tộc Việt Nam” (nhấn mạnh phương diện đoàn kết dân tộc), đồng thời Nghị quyết số 23-NQ/TW có sự phát triển khi xác định cộng đồng là một trong những nguồn lực chiến lược quan trọng, góp phần nâng cao sức mạnh tổng hợp quốc gia và là cầu nối giữa Việt Nam với thế giới (nhấn mạnh phương diện nguồn lực phát triển). Như vậy, Nghị quyết số 23-NQ/TW đã kết nối hai phương diện này trong một chỉnh thể: Người Việt Nam ở nước ngoài vừa là bộ phận của cộng đồng dân tộc, vừa là nguồn lực của quốc gia.

Sự thay đổi từ “vận động” sang “đồng hành - kiến tạo - huy động nguồn lực” có thể xem là một trong những thông điệp chính sách nổi bật nhất của Nghị quyết số 23-NQ/TW. Theo đó, Nghị quyết xác định: “Trong giai đoạn mới, công tác người Việt Nam ở nước ngoài cần nâng tầm tư duy từ vận động, tập hợp, chăm lo lên thành đồng hành, kiến tạo cơ chế, huy động nguồn lực người Việt Nam ở nước ngoài tham gia sâu hơn trong hành trình hội nhập, xây dựng và phát triển của đất nước”. Đây là điểm có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh nguồn lực tri thức của người Việt Nam ở nước ngoài ngày càng lớn. Với gần 6,5 triệu kiều bào đang sinh sống và làm việc trên 130 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó khoảng 80% là tại các nước phát triển”[1], đây là cộng đồng có tiềm lực về kinh tế, tri thức, khoa học - công nghệ và mạng lưới quan hệ quốc tế. Vì vậy, vấn đề đặt ra không chỉ là “làm thế nào để kiều bào hướng về quê hương”, mà sâu xa hơn, đó là “làm thế nào để tạo ra một môi trường mà người Việt Nam ở nước ngoài có thể đóng góp một cách thuận lợi, hiệu quả và lâu dài”.

Nghị quyết số 23-NQ/TW quan điểm: Nâng cao vị thế của cộng đồng cũng là nâng cao sức mạnh mềm quốc gia. Do đó, Nghị quyết đặt mục tiêu xây dựng cộng đồng có “địa vị pháp lý vững chắc, hoà nhập sâu rộng và phát triển ổn định”, đồng thời tăng cường vị thế, trách nhiệm, uy tín của cộng đồng ở nước sở tại. Nghị quyết cũng nhấn mạnh vai trò của người Việt Nam ở nước ngoài như những “đại sứ văn hoá, đất nước và con người Việt Nam”. Đây là cách tiếp cận có chiều sâu về sức mạnh mềm quốc gia. Một cộng đồng người Việt có vị thế, uy tín và khả năng hội nhập tốt ở nước sở tại sẽ tạo ra nhiều kênh kết nối tự nhiên giữa Việt Nam với quốc tế. Họ có thể tham gia thúc đẩy quan hệ kinh tế, thương mại, khoa học - công nghệ, giáo dục, văn hóa và giao lưu nhân dân. Theo đó, vị thế của cộng đồng không chỉ là vấn đề của bản thân cộng đồng mà còn có liên hệ với hình ảnh, uy tín và sức mạnh mềm của Việt Nam.

3. Về bảo hộ và kết nối cộng đồng: Chuyển từ bảo vệ quyền lợi sang xây dựng cộng đồng vững mạnh, an toàn và có khả năng kết nối

Bảo hộ công dân là trách nhiệm của Nhà nước. Một trong những quan điểm được Nghị quyết xác định rõ là: “Đảng, Nhà nước có trách nhiệm chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng và phối hợp bảo đảm an ninh, an toàn của người Việt Nam ở nước ngoài”. Điều này cho thấy bảo hộ không phải là một nội dung mang tính bổ trợ, mà là một bộ phận cấu thành của chính sách đối với người Việt Nam ở nước ngoài. Nghị quyết yêu cầu tiếp tục hoàn thiện cơ chế, nâng cao hiệu quả công tác bảo hộ công dân, đặc biệt trong các tình huống khẩn cấp; đồng thời tăng cường phổ biến, giáo dục pháp luật, tư vấn và hỗ trợ pháp lý cho người Việt Nam ở nước ngoài.

Nghị quyết cũng đặt vấn đề tăng cường hợp tác quốc tế, thúc đẩy các điều ước và thỏa thuận quốc tế liên quan đến an ninh, tương trợ tư pháp, hình sự, dẫn độ, phòng, chống tội phạm, di cư trái phép và mua bán người. Như vậy, bảo hộ trong tư duy mới không chỉ là “giải quyết sự việc khi xảy ra”, mà hướng tới cả phòng ngừa rủi ro, cung cấp thông tin pháp lý và xây dựng cơ chế hợp tác với nước sở tại.

Việc kết nối cộng đồng phải dựa trên lợi ích, nhu cầu và năng lực thực tế. Một cộng đồng đông đảo nhưng thiếu cơ chế kết nối hiệu quả sẽ khó chuyển hóa đầy đủ tiềm năng thành nguồn lực phát triển. Nghị quyết số 23-NQ/TW vì vậy đặt mục tiêu: “gắn kết cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài thông qua mạng lưới hệ sinh thái kết nối bền vững”. Điểm đáng chú ý là Nghị quyết không chỉ nói đến “tập hợp cộng đồng” mà còn nói đến hệ sinh thái kết nối. Tính “kết nối” được thể hiện ở nhiều phương diện, nhiều góc độ khác nhau: giữa người Việt Nam ở nước ngoài với cơ quan nhà nước; giữa cộng đồng với địa phương; giữa chuyên gia với cơ sở nghiên cứu, doanh nghiệp; giữa doanh nhân với thị trường… Và ở góc độ rộng hơn, đó có thể là sự kết nối cộng đồng Việt Nam ở các quốc gia khác nhau hay kết nối nguồn lực của cộng đồng với các chương trình phát triển của Việt Nam. Đặc biệt, Nghị quyết nhấn mạnh việc thu hút chuyên gia, trí thức, nhà khoa học và nhân tài trong các lĩnh vực như đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, công nghệ sinh học; đồng thời tạo điều kiện để doanh nhân, doanh nghiệp Việt Nam ở nước ngoài đầu tư, sản xuất, kinh doanh, chuyển giao công nghệ, hình thành mạng lưới hợp tác, chuỗi cung ứng và hệ sinh thái khởi nghiệp giữa Việt Nam với thế giới. Như vậy, kết nối cộng đồng được đặt trong chính sách phát triển quốc gia chứ không đơn thuần chỉ là chính sách dân vận hay đối ngoại nhân dân.

4. Nghị quyết số 23-NQ/TW và yêu cầu đổi mới quản trị nhà nước đối với người Việt Nam ở nước ngoài

Nghị quyết số 23-NQ/TW của Bộ Chính trị được ban hành sau hơn 20 năm thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW trong bối cảnh cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài đã có sự thay đổi căn bản cả về quy mô, cơ cấu, chất lượng nguồn lực và mức độ hội nhập. Với s lượng chuyên gia, trí thức, nhà khoa học, doanh nhân và lao động kỹ thuật cao ngày càng tăng, trong đó một số người đã giữ những vị trí quan trọng trong hệ thống chính trị nước sở tại thì việc ban hành nghị quyết không đơn thuần chỉ là “chính sách đối với kiều bào”, mà sâu xa hơn là sự chuyển đổi trong phương thức quản trị nhà nước. Điều này thể hiện qua những phương diện cơ bản nêu sau:

Một là, đối với quản trị hiện đại, Nhà nước không nhất thiết trực tiếp thực hiện tất cả các hoạt động, mà trước hết phải kiến tạo môi trường thể chế để các chủ thể xã hội có thể phát huy năng lực. Tinh thần này thể hiện khá rõ trong Nghị quyết số 23-NQ/TW không chỉ yêu cầu tiếp tục chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người Việt Nam ở nước ngoài mà còn đặt yêu cầu “kiến tạo cơ chế”, tạo thuận lợi để cộng đồng tham gia sâu hơn vào quá trình hội nhập, xây dựng và phát triển đất nước. Điều này đặt ra một yêu cầu rất rõ: chất lượng công tác người Việt Nam ở nước ngoài trong giai đoạn mới không chỉ được đo bằng số lượng hoạt động vận động, số cuộc gặp gỡ hay số chương trình kết nối, mà phải được đo bằng mức độ thuận lợi của thể chế và khả năng chuyển hóa nguồn lực thành kết quả phát triển.

Hai, từ quản trị hành chính sang quản trị mạng lưới. Với một cộng đồng tương đối rộng lớn khoảng hơn 6,5 triệu người sống tại hơn 130 quốc gia và vùng lãnh thổ thì việc quản trị theo phương thức hành chính truyền thống trở nên không còn phù hợp. Người Việt Nam ở nước ngoài có sự khác nhau về quốc gia cư trú, điều kiện pháp lý, thế hệ, nghề nghiệp, trình độ, điều kiện kinh tế, mức độ hội nhập và nhu cầu đối với Việt Nam. Do đó, quản trị mạng lưới trở thành cách tiếp cận phù hợp. Theo đó, Nhà nước đóng vai trò tạo nền tảng pháp lý, thiết lập nguyên tắc, kết nối các chủ thể, điều phối nguồn lựcbảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cộng đồng. Nghị quyết số 23-NQ/TW đặc biệt nhấn mạnh việc xây dựng “hệ sinh thái kết nối bền vững” cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài và thu hút chuyên gia, trí thức, nhà khoa học, doanh nhân, thế hệ trẻ tham gia vào các hoạt động phát triển đất nước.

Ba, người Việt Nam ở nước ngoài từ “tham gia” đến “đồng kiến tạo chính sách”. Nghị quyết số 23-NQ/TW không chỉ xác định người Việt Nam ở nước ngoài là nguồn lực mà còn đặt vấn đề tạo thuận lợi để cộng đồng tham gia tích cực, có trách nhiệm vào đời sống chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước, đóng góp ý kiến xây dựng chủ trương, đường lối, chính sách và tham gia các chương trình, dự án phát triển. Đặc biệt, nguồn lực trí thức của người Việt Nam ở nước ngoài có thể tạo ra giá trị rất lớn ở giai đoạn trước khi chính sách được ban hành. Ví dụ, chuyên gia Việt Nam ở nước ngoài có thể thông tin về công nghệ mới, cung cấp các kinh nghiệm quốc tế, các giải pháp về khoa học - công nghệ hay phản biện chính sách để góp phần xây dựng một chính sách thực tế, khả thi sau khi được ban hành. Như vậy cũng có nghĩa là người Việt Nam ở nước ngoài đã tham gia vào quá trình “đồng kiến tạo chính sách”.

Bốn, chuyển đổi số và sự hình thành “hạ tầng quản trị cộng đồng toàn cầu”. Nghị quyết số 23-NQ/TW đã đặt vấn đề đẩy mạnh chuyển đổi số trong công tác người Việt Nam ở nước ngoài, nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ công và khai thác nguồn tài nguyên tri thức, văn hóa Việt Nam. Điều này cho phép thiết lập một hạ tầng quản trị số đối với cộng đồng người Việt Nam toàn cầu. Một cơ sở dữ liệu được xây dựng tốt có thể giúp nhận diện các vấn đề như: chuyên gia Việt Nam ở đâu; họthế mạnh về chuyên môn gì, trong lĩnh vực nào; họ có thể đóng góp theo hình thức nào…? Khi đó, dữ liệu không chỉ có ý nghĩa thống kê mà trở thành hạ tầng của chính sách. Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng, quản trị số không đồng nghĩa với việc chỉ xây dựng một cơ sở dữ liệu về kiều bào. Giá trị thực sự nằm ở việc hình thành nền tảng tương tác hai chiều, nơi Nhà nước cung cấp thông tin, cộng đồng đề xuất sáng kiến, các tổ chức tìm kiếm đối tác và các dự án được kết nối.

Năm, từ “thu hút nhân tài” sang “quản trị và sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực toàn cầu”. Nghị quyết số 23-NQ/TW đặc biệt nhấn mạnh việc thu hút chuyên gia, trí thức, nhà khoa học và nhân tài trong những lĩnh vực có ý nghĩa chiến lược như đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, công nghệ sinh học; đồng thời tạo điều kiện để doanh nhân, doanh nghiệp Việt Nam ở nước ngoài tham gia đầu tư, sản xuất, kinh doanh, chuyển giao công nghệ và hình thành các mạng lưới hợp tác. Cần nhấn mạnh: Việc “thu hút nhân tài” không đồng nghĩa với “đưa nhân tài về nước làm việc” mà trong điều kiện hiện nay, có nhiều phương thức sử dụng nguồn nhân lực toàn cầu, như: thu hút về nước (các chuyên gia, nhà khoa học, doanh nhân trở về làm việc lâu dài); hợp tác xuyên biên giới (chuyên gia vẫn ở nước ngoài nhưng tham gia các dự án, chương trình nghiên cứu, đào tạo, tư vấn hoặc chuyển giao công nghệ tại Việt Nam) hoặc kết nối mạng lưới (một chuyên gia có thể kết nối Việt Nam với trường đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp hoặc quỹ đầu tư nơi họ đang sinh sống)... Do đó, trong giai đoạn hiện nay, không chỉ là “thu hút nhân tài” mà là “quản trị nguồn nhân lực Việt Nam toàn cầu”.

5. Một số vấn đề đặt ra trong tổ chức thực hiện Nghị quyết số 23-NQ/TW

Từ những phân tích nêu trên, có thể nhận diện một số yêu cầu đặt ra hiện nay trong việc thực hiện Nghị quyết này:

Thứ nhất, chuyển hóa quan điểm chính trị thành thể chế cụ thể. Nghị quyết số 23-NQ/TW đưa ra nhiều định hướng về quốc tịch, nhà ở, đầu tư, thủ tục hành chính, dịch vụ công, tham gia đời sống chính trị - xã hội, khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo. Do đó, thách thức lớn nhất trong thời gian tới là thể chế hóa. Nếu chỉ dừng ở chủ trương mà không chuyển thành quy định pháp luật, quy trình hành chính và cơ chế phối hợp cụ thể thì rất khó biến nguồn lực của cộng đồng thành nguồn lực phát triển thực tế.

Thứ hai, xây dựng cơ chế tham gia thực chất. Ở đây, “tham gia” không nên chỉ được hiểu là tham dự các sự kiện hoặc đóng góp ý kiến theo từng chương trình. Cần hướng tới cơ chế để người Việt Nam ở nước ngoài có thể tham gia từ khâu xác định vấn đề, đóng góp sáng kiến, phản biện chính sách, triển khai chương trình đến đánh giá kết quả. Đây là bước phát triển quan trọng từ “tham gia” sang “đồng kiến tạo chính sách”.

Thứ ba, cần bảo đảm tính bình đẳng và minh bạch trong tiếp cận cơ hội. Nếu mục tiêu là phát huy nguồn lực thì điều kiện quyết định không chỉ là chính sách ưu đãi mà còn là tính minh bạch, ổn định, khả năng dự đoán và sự công bằng của môi trường pháp lý. Đối với chuyên gia, trí thức, doanh nhân ở nước ngoài, những yếu tố như thủ tục hành chính, quyền sở hữu, quốc tịch, đầu tư, chuyển giao công nghệ, sở hữu trí tuệ, thuế, lao động và tiếp cận các chương trình khoa học - công nghệ đều có thể ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định đóng góp.

Thứ tư, phải kết hợp bảo hộ với nâng cao năng lực tự bảo vệ của cộng đồng. Bảo hộ công dân hiệu quả không chỉ dựa vào sự can thiệp của cơ quan đại diện Việt Nam mà còn cần tăng cường phổ biến pháp luật, tư vấn pháp lý, kỹ năng hội nhập, khả năng tiếp cận thông tin và mạng lưới hỗ trợ cộng đồng. Đây cũng là lý do Nghị quyết đồng thời đặt yêu cầu tăng cường phổ biến, giáo dục pháp luật và các kênh tư vấn, hỗ trợ pháp lý.

Thứ năm, cần ứng dụng mạnh mẽ công nghệ số để hình thành “hệ sinh thái kết nối”. Nghị quyết yêu cầu đẩy mạnh chuyển đổi số trong dịch vụ công liên quan đến công tác người Việt Nam ở nước ngoài và tăng cường ứng dụng công nghệ số để cộng đồng dễ dàng tiếp cận, khai thác và phát huy nguồn tài nguyên tri thức, văn hóa Việt Nam. Điều này mở ra khả năng hình thành mạng lưới người Việt Nam toàn cầu trên nền tảng số, trong đó dữ liệu về chuyên gia, nhà khoa học, doanh nhân, nhà đầu tư, văn nghệ sĩ và thế hệ trẻ có thể được kết nối với nhu cầu phát triển trong nước.

Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 02/8/2026 của Bộ Chính trị về công tác người Việt Nam ở nước ngoài đánh dấu một bước phát triển đáng chú ý trong tư duy chính sách đối với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Điểm cốt lõi không chỉ nằm ở việc tiếp tục khẳng định người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam mà điều quan trọng hơn là xác lập cách tiếp cận mới: coi cộng đồng là nguồn lực chiến lược, là cầu nối giữa Việt Nam với thế giới và là chủ thể tham gia trực tiếp vào quá trình xây dựng, phát triển và bảo vệ Tổ quốc. Đây chính là yêu cầu quan trọng nhất đặt ra trong tổ chức thực hiện Nghị quyết 23-NQ/TW: không chỉ “hướng về kiều bào”, mà phải tạo dựng một cơ chế để kiều bào có thể thực sự đồng hành, tham gia và cùng kiến tạo tương lai phát triển của đất nước.

Ths Lê Thị Thanh Nhàn, Trường Chính trị Tô Hiệu

 

[1] Số liệu trích dẫn theo Báo Nhân Dân ngày 29/12/2025

TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ VỀ PHỔ BIẾN GIÁO DỤC PHÁP LUẬT

Cơ quan chủ quản: UBND thành phố Hải Phòng

Cơ quan quản lý: Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng

Trưởng Ban biên tập: Ngô Quang Giáp, Ủy viên Thành ủy, Giám đốc Sở Tư pháp

Thống kê truy cập: 0

Liên hệ

 Địa chỉ: Tòa nhà E, Trung tâm Chính trị - Hành chính, Khu đô thị Bắc sông Cấm, phường Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng

 Điện thoại: 0225.3846314

 Fax: 0225.3640091

 Email: sotp@haiphong.gov.vn