Ngày 02/11/2026, Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà ký ban hành Nghị định số 399/2026/NĐ-CP quy định chi tiết mức lương tối thiểu đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2027, chính thức thay thế Nghị định số 293/2025/NĐ-CP ngày 10/11/2025 của Chính phủ. Nghị định mới ban hành đánh dấu bước điều chỉnh chính sách tiền lương mang tính chiến lược, đáp ứng yêu cầu thực tiễn của thị trường lao động và góp phần bảo đảm an sinh xã hội cho người lao động trên phạm vi toàn quốc.
Quy định tại Nghị định số 399/2026/NĐ-CP xác định phạm vi đối tượng áp dụng rộng lớn và toàn diện trong nền kinh tế. Theo đó, đối tượng thụ hưởng trực tiếp là người lao động làm việc theo chế độ hợp đồng lao động quy định tại Bộ luật Lao động. Ở chiều ngược lại, người sử dụng lao động thuộc diện áp dụng bao gồm toàn bộ các doanh nghiệp hoạt động theo Luật Doanh nghiệp, cùng các cơ quan, tổ chức, hợp tác xã, hộ gia đình và cá nhân có thuê mướn, sử dụng lao động theo thỏa thuận. Bên cạnh đó, tất cả các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan trực tiếp đến việc thực hiện mức lương tối thiểu đều chịu sự điều chỉnh của văn bản pháp lý này. Sự ra đời của Nghị định số 399/2026/NĐ-CP không chỉ thiết lập sàn đàm phán tiền lương mới mà còn tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc quản lý nhà nước về lao động, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người lao động trong các thành phần kinh tế.
Mức điều chỉnh tăng đồng bộ theo tháng và theo giờ
Điểm cốt lõi của Nghị định số 399/2026/NĐ-CP là việc điều chỉnh tăng mức lương tối thiểu tháng tại cả 04 vùng kinh tế với mức tăng tuyệt đối dao động từ 310.000 đồng đến 390.000 đồng mỗi tháng. Cụ thể, tại vùng I, mức lương tối thiểu tháng được điều chỉnh tăng thêm 390.000 đồng, nâng từ mức 5.310.000 đồng/tháng hiện hành lên mức 5.700.000 đồng/tháng. Đối với địa bàn vùng II, mức lương tối thiểu tháng được điều chỉnh tăng thêm 350.000 đồng, nâng từ mức 4.730.000 đồng/tháng lên mức 5.080.000 đồng/tháng. Tại địa bàn vùng III, mức lương tối thiểu tháng tăng thêm 310.000 đồng, từ mức 4.140.000 đồng/tháng lên 4.450.000 đồng/tháng. Địa bàn vùng IV ghi nhận mức điều chỉnh tăng 340.000 đồng, đưa mức lương tối thiểu tháng từ 3.700.000 đồng/tháng lên mức 4.040.000 đồng/tháng kể từ ngày 01/01/2027.
Mức lương tối thiểu theo giờ cũng được điều chỉnh tăng đồng bộ tại tất cả các vùng nhằm bảo vệ lực lượng lao động làm việc linh hoạt hoặc theo hình thức bán thời gian. Theo quy định mới, mức lương tối thiểu giờ tại vùng I tăng từ 25.500 đồng/giờ lên 27.400 đồng/giờ. Tại vùng II, mức lương tối thiểu giờ điều chỉnh tăng từ 22.700 đồng/giờ lên 24.400 đồng/giờ. Đối với địa bàn vùng III, mức lương tối thiểu giờ tăng từ 20.000 đồng/giờ lên 21.400 đồng/giờ. Địa bàn vùng IV ghi nhận mức điều chỉnh tăng từ 17.800 đồng/giờ lên 19.400 đồng/giờ. Việc quy định cụ thể mức lương tối thiểu giờ giúp định hình sàn thanh toán minh bạch, bảo đảm người lao động làm việc theo giờ được hưởng mức lương tối thiểu tương xứng với sức lao động đã bỏ ra.
Theo Nghị định số 399/2026/NĐ-CP, mức lương tối thiểu tháng là mức lương thấp nhất làm cơ sở để người lao động và người sử dụng lao động thỏa thuận, trả lương đối với hình thức trả lương theo tháng. Mức lương này bảo đảm dành cho người lao động làm việc đủ thời giờ làm việc bình thường trong tháng và hoàn thành định mức lao động hoặc công việc đã thỏa thuận. Tương tự, mức lương tối thiểu giờ là mức thấp nhất làm cơ sở thỏa thuận và trả lương đối với hình thức trả lương theo giờ, bảo đảm cho người lao động làm việc trong một giờ và hoàn thành định mức công việc. Việc áp dụng đúng các tiêu chuẩn này bảo đảm công bằng trong thanh toán tiền lương và ngăn ngừa các hành vi chèn ép thu nhập người lao động.
Xác định địa bàn áp dụng và phương pháp quy đổi lương
Nghị định số 399/2026/NĐ-CP quy định nguyên tắc xác định địa bàn áp dụng mức lương tối thiểu căn cứ trực tiếp vào nơi hoạt động thực tế của người sử dụng lao động. Trường hợp người sử dụng lao động hoạt động trên địa bàn thuộc vùng nào thì bắt buộc phải áp dụng mức lương tối thiểu quy định đối với địa bàn đó. Đối với các doanh nghiệp, tổ chức có nhiều đơn vị, chi nhánh hoạt động tại các địa bàn có mức lương tối thiểu khác nhau, quy định yêu cầu đơn vị, chi nhánh hoạt động ở địa bàn nào thì phải áp dụng đúng mức lương tối thiểu của địa bàn đó. Trường hợp doanh nghiệp hoạt động trong các khu kinh tế trọng điểm như khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu công nghệ số tập trung, khu kinh tế đặc biệt, khu thương mại tự do hoặc khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao nằm trên các địa bàn có mức lương tối thiểu khác nhau thì bắt buộc phải áp dụng theo địa bàn có mức lương tối thiểu cao nhất.
Nghị định cũng dự phòng các tình huống điều chỉnh địa giới hành chính nhằm bảo đảm quyền lợi liên tục cho người lao động. Trong trường hợp địa bàn hoạt động của người sử dụng lao động có sự đổi tên hoặc chia tách, người sử dụng lao động tạm thời áp dụng mức lương tối thiểu quy định đối với địa bàn trước khi đổi tên hoặc chia tách cho đến khi Chính phủ ban hành quy định mới. Ngược lại, đối với địa bàn mới được thành lập từ sự sáp nhập của một hoặc nhiều địa bàn có mức lương tối thiểu khác nhau, người sử dụng lao động phải áp dụng mức lương tối thiểu theo địa bàn có mức lương cao nhất cho đến khi có quy định mới từ Chính phủ.
Nghị định số 399/2026/NĐ-CP hướng dẫn chi tiết phương pháp quy đổi đối với hình thức trả lương theo tuần, theo ngày, theo sản phẩm hoặc lương khoán. Quy định yêu cầu các mức lương này khi quy đổi theo tháng hoặc theo giờ tuyệt đối không được thấp hơn mức lương tối thiểu tháng hoặc mức lương tối thiểu giờ. Mức lương quy đổi theo tháng được xác định bằng mức lương theo tuần nhân 52 tuần chia cho 12 tháng, hoặc bằng mức lương theo ngày nhân với số ngày làm việc bình thường trong tháng, hoặc bằng tổng mức lương theo sản phẩm, lương khoán thực hiện trong thời giờ làm việc bình thường của tháng. Trong khi đó, mức lương quy đổi theo giờ được tính bằng cách lấy lương tuần hoặc lương ngày chia cho số giờ làm việc bình thường trong tuần hoặc trong ngày, hoặc lấy lương sản phẩm, lương khoán chia cho số giờ làm việc bình thường để hoàn thành khối lượng công việc được giao.
Trách nhiệm của người sử dụng lao động trong bảo vệ quyền lợi
Chính phủ quy định trách nhiệm cụ thể đối với người sử dụng lao động trong việc rà soát và hoàn thiện hệ thống quy chế nội bộ. Người sử dụng lao động có nghĩa vụ tổ chức rà soát lại toàn bộ các thỏa thuận trong hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể và quy chế trả lương để chủ động điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp với sàn lương mới. Nghị định nghiêm cấm người sử dụng lao động tự ý xóa bỏ hoặc cắt giảm các chế độ tiền lương hiện hành của người lao động khi làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm, chế độ bồi dưỡng bằng hiện vật cũng như các chế độ đãi ngộ khác được pháp luật lao động bảo vệ.
Nghị định số 399/2026/NĐ-CP nhấn mạnh nguyên tắc bảo lưu các thỏa thuận có lợi hơn cho người lao động đã được cam kết trước đó. Các nội dung đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể hoặc các văn bản hợp pháp khác có mức đãi ngộ cao hơn quy định tối thiểu thì tiếp tục được thực hiện, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác. Trong đó, quy định nêu rõ chế độ trả lương cho công việc hoặc chức danh đòi hỏi qua học tập, đào tạo nghề phải cao hơn ít nhất 7% so với mức lương tối thiểu. Đối với công việc hoặc chức danh có điều kiện lao động nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, mức lương phải cao hơn ít nhất 5%, và đối với công việc có điều kiện đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm phải cao hơn ít nhất 7% so với mức lương của công việc có độ phức tạp tương đương trong điều kiện bình thường.
Nghị định số 399/2026/NĐ-CP chính thức có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2027, thời điểm Nghị định số 293/2025/NĐ-CP ngày 10/11/2025 hết hiệu lực thi hành. Việc công bố Nghị định trước thời điểm có hiệu lực tạo khoảng thời gian cần thiết để các cơ quan quản lý nhà nước, hệ thống công đoàn và cộng đồng doanh nghiệp chuẩn bị đầy đủ các điều kiện về nguồn tài chính, rà soát thang bảng lương và tuyên truyền sâu rộng đến người lao động. Sự chủ động chuẩn bị này bảo đảm cho chính sách tiền lương mới được thực thi hiệu quả, góp phần xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định, tiến bộ và thúc đẩy sự phát triển bền vững của nền kinh tế đất nước
Phạm Lâm