“Chủ động thực thi; phát huy động lực; tăng trưởng bứt phá”
Thời gian: 28/08/2026 12:58

Một số quy định về chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù

Ngày 15/05/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 171/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù (sau đây viết tắt là nghị định); Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026.

Theo đó, điều kiện và trình tự, thủ tục áp dụng nguyên tắc có đi có lại trong chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù là:

Cam kết về việc áp dụng nguyên tắc có đi có lại trong chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù được lập thành văn bản độc lập hoặc được thể hiện trong văn bản yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù.

Khi cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài đề nghị, Bộ Công an xem xét, quyết định áp dụng nguyên tắc có đi có lại như sau:

Bộ Công an xem xét, quyết định đồng ý nếu cơ quan này từng chấp thuận đề nghị tương tự trước đó của Bộ Công an hoặc hai bên chưa hợp tác nhưng cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài có cam kết áp dụng nguyên tắc này;

Bộ Công an xem xét, quyết định từ chối nếu cơ quan này từ chối đề nghị tương tự trước đó của Bộ Công an;

Để đáp ứng yêu cầu đối ngoại, trong trường hợp cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài từng từ chối nhưng nay cam kết áp dụng nguyên tắc này, Bộ Công an lấy ý kiến của các cơ quan có liên quan theo quy định của pháp luật trước khi xem xét, quyết định.

Trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng nguyên tắc có đi có lại trong chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù:

Trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ yêu cầu chuyển giao kèm theo cam kết áp dụng nguyên tắc có đi có lại từ cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài, Bộ Công an kiểm tra, đánh giá điều kiện áp dụng nguyên tắc này. Trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ, Bộ Công an đề nghị cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cung cấp bổ sung theo quy định của pháp luật về chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù.

Nếu thuộc trường hợp đặc biệt theo quy định của pháp luật về chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù thì thời hạn kiểm tra, đánh giá là 07 ngày;

Trường hợp cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài từng từ chối nhưng nay cam kết áp dụng nguyên tắc có đi có lại, Bộ Công an lấy ý kiến của các cơ quan có liên quan trước khi xem xét quyết định áp dụng nguyên tắc có đi có lại hoặc việc chuyển giao có nguy cơ ảnh hưởng đến chủ quyền, quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, sức khỏe cộng đồng và lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân tại Việt Nam, trong thời gian 10 ngày kể từ ngày nhận được đề nghị của cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài, Bộ Công an gửi văn bản lấy ý kiến của Bộ Ngoại giao và các cơ quan có liên quan. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ ý kiến của các cơ quan, Bộ Công an xem xét, quyết định việc áp dụng nguyên tắc có đi có lại;

Trường hợp đồng ý áp dụng nguyên tắc có đi có lại và hồ sơ đáp ứng các quy định của pháp luật về chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù, Bộ Công an có văn bản chuyển ngay 01 bộ hồ sơ gốc cho Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền và 01 bản sao hồ sơ cho Viện Kiểm sát nhân dân cùng cấp để thực hiện chức năng kiểm sát;

Trường hợp từ chối áp dụng nguyên tắc có đi có lại hoặc hồ sơ không đáp ứng các quy định nêu trên, Bộ Công an thông báo ngay bằng văn bản cho cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài qua kênh ngoại giao và nêu rõ lý do.

Trình tự, thủ tục rút lại đơn đề nghị được chuyển giao

Việc rút lại đơn đề nghị được chuyển giao của người đang chấp hành án phạt tù hoặc người đại diện hợp pháp của người đó phải được thể hiện bằng văn bản.

Trường hợp người đang chấp hành án phạt tù ở Việt Nam, văn bản rút đơn được nộp cho trại giam nơi người đó đang chấp hành án. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản rút đơn, trại giam phải chuyển đến Bộ Công an để xử lý theo quy định. Việc chuyển văn bản có thể được thực hiện trên môi trường điện tử.

Trường hợp người đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài, văn bản rút đơn được nộp cho cơ quan đại diện Việt Nam ở nước sở tại hoặc cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài hoặc Bộ Công an. Trường hợp cơ quan đại diện Việt Nam nhận được văn bản rút đơn thì chuyển văn bản đó qua môi trường điệ tử về Bộ Công an trong thời hạn 03 ngày làm việc.

Việc xử lý văn bản rút đơn được quy định như sau:

Trường hợp văn bản rút đơn được lập trước khi quyết định tiếp nhận hoặc quyết định chuyển giao của Tòa án nhân dân có thẩm quyền có hiệu lực pháp luật thì Bộ Công an thông báo ngay bằng văn bản, kèm theo văn bản rút đơn Tòa án nhân dân có thẩm quyền để đình chỉ việc xem xét hoặc hủy bỏ quyết định ban hành; đồng thời gửi 01 bản sao cho Viện Kiểm sát nhân dân cùng cấp để thực hiện chức năng kiểm sát. Bộ Công an thông báo bằng văn bản cho cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài về việc người đang chấp hành án phạt tù hoặc người đại diện hợp pháp của người đó đã rút đơn qua kênh ngoại giao, trừ trường hợp Việt Nam và nước chuyển giao cùng là thành viên của điều ước quốc tế về chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù có quy định khác;

Trường hợp văn bản rút đơn được lập sau khi các quyết định của Tòa án nhân dân theo quy định đã có hiệu lực pháp luật thì Bộ Công an thông báo bằng văn bản cho người rút đơn về việc không chấp nhận rút đơnvà nêu rõ lý do .

Sau khi nhận được văn bản rút đơn đề nghị được chuyển giao, nếu có dấu hiệu cho thấy người đang chấp hành án phạt tù bị ép buộc, đe dọa, lừa dối trong việc rút đơn, Bộ Công an tiến hành xác minh.

Trường hợp kết quả xác minh cho thấy có sự ép buộc, đe dọa, lừa dối, văn bản rút đơn sẽ không có giá trị pháp lý, quy trình chuyển giao vẫn tiếp tục được thực hiện và Bộ Công an có văn bản thông báo ngay về kết quả xác minh cho người rút đơn thông qua cơ quan đại diện Việt Nam ở nước chuyển giao hoặc trại giam ở Việt Nam.

Trình tự, thủ tục quá cảnh người đang chấp hành án phạt tù

Nước đề nghị quá cảnh người đang chấp hành án phạt tù qua lãnh thổ Việt Nam phải gửi văn bản đề nghị quá cảnh theo quy định đến Bộ Công an trước ít nhất 10 ngày so với ngày dự kiến quá cảnh, trừ trường hợp vận chuyển bằng đường hàng không mà không có kế hoạch hạ cánh tại Việt Nam nhưng phải hạ cách đột xuất do sự cố kỹ thuật, tình trạng sức khỏe của người đang chấp hành án phạt tù, nhân viên áp giải, điều kiện thời tiết hoặc lý do bất khả kháng. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị, Bộ Công an xem xét, quyết định việc cho phép quá cảnh, trừ trường hợp người được chuyển giao là công dân Việt Nam; hành vi phạm tội của người đang chấp hành án phạt tù không cấu thành tội phạm theo quy định của Bộ luật Hình sự; Việc quá cảnh gây phương hại đến chủ quyền, an ninh, trật tự, an toàn xã hội Việt Nam. Việc chuyển văn bản đề nghị quá cảnh và văn bản trả lời có thể được thực hiện trên môi trường điện tử.

Văn bản đề nghị quá cảnh phải có các nội dung: ngày, tháng, năm và địa điểm lập văn bản; Tên, địa chỉ của cơ quan có thẩm quyền của nước đề nghị quá cảnh; Thông tin nhân thân người được chuyển giao, bao gồm họ, chữ đệm và tên, ngày tháng năm sinh, giới tính, quốc tịch, số hộ chiếu, nơi thường trú và tình trạng sức khỏe của người được chuyển giao; Thông tin về hành vi phạm tội của người được chuyển giao, hình phạt áp dụng đối với người được chuyển giao, thời điểm bắt đầu và thời điểm két thúc thi hành án; Thông tin về lịch trình di chuyển, thời gian dự kiến quá cảnh, phương tiện vận chuyển, thành phần Đoàn áp giải và các loại vũ khí, công cụ hỗ trợ mang theo (nếu có); Các đề nghị hỗ trợ từ cơ quan quản lý xuất nhập cảnh và lực lượng chức năng tại cửa khẩu của Việt Nam (nếu có); Các thông tin cần thiết khác (nếu có).

Bộ công an từ chối quá cảnh trong các trường hợp: Người được chuyển giao là công dân Việt Nam; Hành vi phạm tội của người đang chấp hành án phạt tù không cấu thành tội phạm theo quy định của Bộ luật Hình sự Việt Nam; Việc quá cảnh gây phương hại đến chủ quyền, an ninh, trật tự, an toàn xã hội Việt Nam.

Người đang chấp hành án phạt tù và nhân viên áp giải phải ở trong khu vực quá cảnh tại sân bay quốc tế hoặc tại cửa khẩu cảng biển trong thời gian chờ phương tiện để đi nước thứ ba, phù hợp với quy định của pháp luật về nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam.

Trong thời gian quá cảnh, nhân viên áp giải của nước đề nghị phải chịu trách nhiệm chính trong việc giám sát, quản lý người đang chấp hành án phạt tù. Cơ quan quản lý xuất nhập cảnh và lực lượng chức năng tại cửa khẩu của Việt Nam có trách nhiệm hỗ trợ bảo đảm an ninh, trật tự và giám sát chung. Mọi chi phí phát sinh trong thời gian quá cảnh do nước đề nghị quá cảnh chi trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Trường hợp vận chuyển bằng đường hàng không mà không có kế hoạch hạ cánh tại Việt Nam nhưng phải hạ cánh đột xuất do sự cố kỹ thuật, tình trạng sức khỏe của người đanng chấp hành án phạt tù, nhân viên áp giải, điều kiện thời tiết hoặc lý do bất khả kháng thì Trưởng đoàn áp giải hoặc người chỉ huy tàu bay phải thông báo ngay cho cơ quan quản lý xuất nhập cảnh tại sân bay về sự có mặt của người đang chấp hành án phạt tù trên tàu bay. Để bảo đảm an ninh, trật tự, cơ quan quản lý xuất nhập cảnh phối hợp với nhân viên áp giải của nước đề nghị thực hiện ngay các biện pháp giám sát, quản lý người đang chấp hành án phạt tù.

Trong thời gian chờ chuyến bay tiếp theo, người đang chấp hành án phạt tù phải bị quản lý tại khu vực cánh ly của sân bay theo quy định của pháp luật.

Các trường hợp đặc biệt trong chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù

Việc tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài về Việt Nam hoặc chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam cho nước ngoài có thể được tiến hành ngay cả khi thời hạn chưa chấp hành án phạt tù của người được đề nghị chuyển giao ít hơn 01 năm trong các trường hợp: Người đang chấp hành án phạt tù bị mắc bệnh hiểm nghèo, bệnh nặng cần được chăm sóc y tế đặc biệt hoặc điều trị dài ngày mà trại giam ở nước ngoài hoặc Việt Nam không đáp ứng được hoặc để người đó được ở gần gia đình trong thời gia điều trị; người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam hoặc nước mà người đó đang chấp hành án phạt tù xác nhận; Người đang chấp hành án phạt tù là người chưa thành niên; Người đang chấp hành án phạt tù là phụ nữ có thai hoặc nuôi con dưới 36 tháng tuổi; Người đang chấp hành án phạt tù là người đủ 70 tuổi trở lên; Để phục vụ yêu cầu chính trị, đối ngoại, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

Trong các trường hợp nêu trên, thời hạn chấp hành án phạt tù còn lại tính đến thời điểm nhận yêu cầu chuyển giao phải bảo đảm đủ thời gian để thực hiện các thủ tục chuyển giao và tiếp tục thi hành một phần bản án, trừ trường hợp có thỏa thuận khác vì mục đích nhân đạo.

Trường hợp cần thiết, Bộ Công an lấy ý kiến của Bộ Quốc phòng, Bộ Ngoại giao, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Y tế và các cơ quan có liên quan về tính chất đặc biệt của từng hồ sơ cụ thể để quyết định việc tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài về Việt Nam hoặc chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài về Việt Nam hoặc chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam cho nước ngoài. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản lấy ý kiến của Bộ Công an, cơ quan được lấy ý kiến có văn bản trả lời Bộ Công an.

PT

TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ VỀ PHỔ BIẾN GIÁO DỤC PHÁP LUẬT

Cơ quan chủ quản: UBND thành phố Hải Phòng

Cơ quan quản lý: Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng

Trưởng Ban biên tập: Ngô Quang Giáp, Ủy viên Thành ủy, Giám đốc Sở Tư pháp

Thống kê truy cập: 0

Liên hệ

 Địa chỉ: Tòa nhà E, Trung tâm Chính trị - Hành chính, Khu đô thị Bắc sông Cấm, phường Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng

 Điện thoại: 0225.3846314

 Fax: 0225.3640091

 Email: sotp@haiphong.gov.vn