Già hóa dân số đang trở thành một trong những biến đổi xã hội có tác động ngày càng sâu rộng đến mô hình phát triển của nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Vấn đề người cao tuổi vì vậy không còn chỉ được nhìn nhận dưới góc độ bảo trợ xã hội hoặc chăm sóc một nhóm dân cư có nhu cầu đặc thù mà ngày càng gắn chặt với các vấn đề về an sinh xã hội, chăm sóc sức khỏe, chăm sócdài hạn, việc làm, phát huy nguồn lực con người, tổ chức dịch vụ xã hội, chuyển đổi số và quản trị phát triển bền vững. Việc nhận diện hoàn thiện những quy định của pháp luật về người cao tuổi có ý nghĩa quan trọng.
Những vấn đề mới đặt ra liên quan đến người cao tuổi
Luật Người cao tuổi được Quốc hội thông qua ngày 23/11/2009, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2010. Ở nước ta, tháng 10 hàng năm được chọn là “Tháng hành động vì Người cao tuổi Việt Nam” theo Quyết định số 544/QĐ-TTg ngày 25/4/2015 của Thủ tướng Chính phủ.
Việc ban hành các văn bản này đã tạo nền tảng pháp lý quan trọng cho việc bảo vệ, chăm sóc và phát huy vai trò người cao tuổi ở Việt Nam đồng thời xác lập tương đối toàn diện các nhóm quyền, nghĩa vụ của người cao tuổi. Đó là trách nhiệm của gia đình, Nhà nước và xã hội; các chính sách về chăm sóc sức khỏe, bảo trợ xã hội, hoạt động văn hóa, giáo dục, thể dục, thể thao, phát huy vai trò người cao tuổi và trách nhiệm quản lý nhà nước. Tuy nhiên, sau hơn 15 năm thực hiện Luật Người cao tuổi, bối cảnh kinh tế - xã hội của đất nước đã có rất nhiều thay đổi so với thời điểm ban hành Luật năm 2009; Cùng với đó, cơ cấu dân số, mô hình gia đình, nhu cầu chăm sóc và phương thức cung ứng dịch vụ cũng có những biến động không nhỏ.
Yêu cầu hoàn thiện chính sách đối với người cao tuổi hiện nay đã được đặt trong một định hướng mới. Theo Quyết định số 383/QĐ-TTg ngày 21/02/2025 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia về người cao tuổi đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2045 xác định người cao tuổi là nguồn lực quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đồng thời đặt ra yêu cầu hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách về người cao tuổi theo hướng đầy đủ, đồng bộ, toàn diện, hiện đại và bền vững. Chiến lược cũng đề cập tới nhiều lĩnh vực như việc làm, sinh kế, chăm sóc sức khỏe, cơ sở trợ giúp xã hội, phục hồi chức năng, công nghệ thông tin, trợ giúp pháp lý, cơ sở dữ liệu, theo dõi và đánh giá chính sách.
Nghị quyết số 72-NQ/TW ngày 09/9/2025 của Bộ Chính trị “Về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân” tiếp tục khẳng định yêu cầu chuyển mạnh từ “chữa bệnh” sang “phòng bệnh”, quản lý sức khỏe toàn dân và phát triển các dịch vụ chăm sóc liên tục. Quan điểm này phù hợp với xu hướng quốc tế về già hóa khỏe mạnh, trong đó mục tiêu không chỉ là kéo dài tuổi thọ mà còn kéo dài số năm sống khỏe mạnh, duy trì khả năng hoạt động và giảm nhu cầu chăm sóc dài hạn trong tương lai. Điều đó đặt ra yêu cầu pháp luật về người cao tuổi cần được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp.
Đặc biệt, trong giai đoạn phát triển mới của đất nước, Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIV đặt con người và hạnh phúc con người làm trung tâm phát triển, trong đó, người cao tuổi tiếp tục được xác định là “vốn quý dân tộc”, là lực lượng nòng cốt giữ gìn truyền thống, bồi đắp giá trị hiện đại, góp phần tạo nên sức mạnh mềm, đóng góp vào sự phát triển văn hóa, an sinh xã hội và nền kinh tế bạc bền vững. Những yêu cầu mới trong quan điểm của Đảng đối với chăm sóc sức khỏe người cao tuổi cần được thể chế hóa đầy đủ trong các văn bản pháp luậtvà những vấn đề thực tiễn đặt ra, nhất là yêu cầu về già hóa khỏe mạnh, chăm sóc dài hạn, chuỗi dịch vụ chăm sóc liên tục, quản trị dữ liệu, phối hợp liên ngành và phát huy đầy đủ nguồn lực của người cao tuổi cho phù hợp với giai đoạn hiện nay... là những căn cứ quan trọng cho việc hoàn thiện các quy định trong hệ thống pháp luật đối với người cao tuổi.
Nhận diện những bất cập trong quy định pháp luật về người cao tuổi
Chưa hình thành đầy đủ khuôn khổ pháp lý về già hóa khỏe mạnh. Pháp luật hiện hành chưa thể hiện đầy đủ một cách tiếp cận riêng, có tính hệ thống về già hóa khỏe mạnh. Luật Người cao tuổi năm 2009 mặc dù đã có các quy định về rèn luyện sức khỏe, phòng bệnh, khám, chữa bệnh... nhưng với cách tiếp cận truyền thống, đặt trọng tâm vào thời điểm người cao tuổi đã có bệnh hoặc đã phát sinh nhu cầu chăm sóc; trong khi đó, già hóa khỏe mạnh đặt ra yêu cầu cần được can thiệp sớm hơn nhằm tăng cường hoạt động thể chất, chăm sóc sức khỏe tinh thần, phát hiện sớm các yếu tố nguy cơ và xây dựng môi trường sống thuận lợi cho người cao tuổi.
Chưa hình thành đầy đủ khuôn khổ pháp lý cho hệ thống chăm sóc dài hạn. Theo cách tiếp cận của WHO, chăm sóc dài hạn cần được nhìn nhận cùng với chăm sóc sức khỏe ban đầu và chăm sóc tích hợp, bảo đảm người cao tuổi có nhu cầu được tiếp cận dịch vụ phù hợp và lấy con người làm trung tâm. Điều này cũng hoàn toàn phù hợp với quan điểm của Đảng ta trong giai đoạn hiện nay.
Luật Người cao tuổi năm 2009 đã quy định về cơ sở chăm sóc người cao tuổi; cho phép ủy nhiệm việc chăm sóc cho cá nhân hoặc tổ chức cung ứng dịch vụ; đồng thời quy định trách nhiệm của cơ sở trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng và hỗ trợ người cao tuổi. Tuy nhiên, việc “chăm sóc dài hạn” cần được nhìn nhận trong tính hệ thống liên tục có phạm vi rộng hơn so với việc tổ chức các cơ sở chăm sóc đơn thuần và cần có sự kết nối về pháp lý, tài chính, nhân lực, quản lý… Bởi vì, nếu các khâu này tồn tại nhưng không được kết nối thì người cao tuổi và gia đình họ sẽ phải tự tìm kiếm từng dịch vụ riêng lẻ. Điều này làm tăng chi phí xã hội và có thể tạo ra khoảng trống chăm sóc đối với những người có nhu cầu cao nhưng không thuộc diện bảo trợ xã hội.
Sự phân tán giữa các quy định pháp luật trong chính sách thu nhập, y tế, chăm sóc xã hội và dịch vụ đối với người cao tuổi. Hiện nay, các chính sách này được điều chỉnh bởi nhiều văn bản pháp luật khác nhau: Ngoài Luật Người cao tuổi và các văn bản hướng dẫn thi hành, Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2025 và Nghị định số 176/2025/NĐ-CP trong đó có những quy định mới về trợ cấp hưu trí xã hội; ngoài ra, các chương trình của ngành y tế điều chỉnh chăm sóc sức khỏe; pháp luật về lao động, bảo trợ xã hội, trợ giúp xã hội, người khuyết tật, y tế, nhà ở và các lĩnh vực khác đều có những nội dung liên quan đến người cao tuổi. Ví dụ, một người cao tuổi đồng thời cần được bảo đảm về thu nhập; về việc khám, chữa bệnh, phục hồi chức năng; hỗ trợ vận động; chăm sóc tại nhà cũng như tham gia hoạt động xã hội. Nếu mỗi nhu cầu được xử lý bởi một cơ chế riêng, người dân có thể khó tiếp cận một chuỗi dịch vụ một cách liên tục, đồng bộ. Do đó, việc quy định các cơ chế, chính sách liên quan đến người cao tuổi giai đoạn hiện nay không đơn thuần chỉ là việc sửa đổi, bổ sung các quy định riêng lẻ trong Luật Người cao tuổi năm 2009 mà cần được xem xét toàn bộ “hệ sinh thái” pháp luật liên quan đến vấn đề này.
Phát triển nguồn nhân lực chăm sóc người cao tuổi chưa tương xứng với nhu cầu mới. Việc chăm sóc người cao tuổi không chỉ cần nhân viên y tế. Một hệ thống chăm sóc hiện đại cần nhiều nhóm nhân lực khác nhau liên quan đến chăm sóc, điều dưỡng, phục hồi chức năng, công tác xã hội, tư vấn tâm lý, dinh dưỡng và các nhân lực hỗ trợ khác. Luật Người cao tuổi năm 2009 đã quy định trách nhiệm của cơ quan nhà nước trong việc đào tạo, bồi dưỡng nhân viên chăm sóc người cao tuổi. Tuy nhiên, khi chăm sóc dài hạn người cao tuổi trở thành nhu cầu thiết yếu có thể trở thành một dịch vụ ngày càng quan trọng, yêu cầu không chỉ cần có người chăm sóc mà còn là người thực hiện công việc đó phải có năng lực, tiêu chuẩn nghề nghiệp, đạo đức nghề nghiệp…Từ đó đặt ra vấn đề hoàn thiện pháp luật cần đồng thời quan tâm tới chuẩn nghề nghiệp, đào tạo, cấp chứng nhận, kiểm tra chất lượng dịch vụ…để bảo vệ người cao tuổi tránh khỏi nguy cơ bị ngược đãi, xâm hại hoặc cung cấp dịch vụ không bảo đảm chất lượng, đồng thời cũng bảo vệ người lao động trong quan hệ lao động.
Phát huy nguồn lực người cao tuổi trong phát triển kinh tế - xã hội.Nếu như trước đây, quan niệm về người cao tuổi thường được xem xét đơn thuần như là đối tượng “thụ hưởng” chính sách thì hiện nay họ được nhìn nhận như là chủ thể và nguồn lực trong nền kinh tế. Luật Người cao tuổi năm 2009 đã quy định các hoạt động phát huy vai trò người cao tuổi, bao gồm truyền thụ kinh nghiệm, giáo dục thế hệ trẻ, nghiên cứu, tư vấn chuyên môn, phát triển kinh tế, tham gia xây dựng chính sách và giám sát việc thực hiện chính sách… Trong điều kiện kinh tế - xã hội hiện nay, nội dung này cần được phát triển sâu rộng hơn. Đặc biệt, với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, với sự hỗ trợ của máy tính, trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi số… có thể giúp một bộ phận người cao tuổi có chuyên môn, kinh nghiệm quản lý, tri thức nghề nghiệp, mạng lưới xã hội và vẫn còn năng lực lao động có thể tiếp tục làm những công việc phù hợp, như: tham gia tư vấn, truyền nghề, giáo dục, nghiên cứu, hoạt động cộng đồng… Những điều đó mang lại giá trị đối với chính bản thân họ và đối với xã hội.
Chiến lược quốc gia về người cao tuổi đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2045 đã thể hiện rõ định hướng coi người cao tuổi là nguồn lực quan trọng và đề cập đến việc phát huy tiềm năng, vai trò, kinh nghiệm, tri thức của người cao tuổi trong nhiều lĩnh vực. Do đó, khi sửa đổi pháp luật về người cao tuổi không chỉ giải quyết vấn đề: “Nhà nước và xã hội chăm sóc người cao tuổi như thế nào?” mà còn là: “Nhà nước, xã hội tạo điều kiện như thế nào để người cao tuổi tiếp tục đóng góp theo khả năng và nguyện vọng của mình?”.
Quản trị nhà nước về người cao tuổi trong giai đoạn mới. Luật Người cao tuổi năm 2009 quy định Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về công tác người cao tuổi và phân công trách nhiệm cho nhiều bộ, ngành, chính quyền địa phương. Trong bối cảnh hiện nay, số lượng các lĩnh vực liên quan đến người cao tuổi ngày càng mở rộng. Người cao tuổi không chỉ liên quan đến các vấn đề về lao động, xã hội hay y tế mà còn liên quan đến giao thông, nhà ở, quy hoạch đô thị, chuyển đổi số, văn hóa, giáo dục, tư pháp, tài chính, bảo vệ người tiêu dùng và các dịch vụ công… Nếu thiếu cơ chế phối hợp và hệ thống dữ liệu thống nhất, việc hoạch định chính sách liên quan đến người cao tuổi có thể dựa trên những dữ liệu rời rạc của từng ngành. Chiến lược quốc gia về người cao tuổi đến năm 2035 yêu cầu xây dựng, hoàn thiện hệ thống theo dõi, giám sát, đánh giá và cơ sở dữ liệu về người cao tuổi. Bởi vậy, yêu cầu đặt ra khi hoàn thiện pháp luật về người cao tuổi là cần xác định cụ thể các vấn đề, như: Những thông tin, dữ liệu nào về người cao tuổi cần được thu thập; cơ quan nào chịu trách nhiệm quản trị; cơ chế chia sẻ, kết nối dữ liệu giữa các ngành; về trách nhiệm bảo vệ dữ liệu cá nhân và cách thức sử dụng dữ liệu cho dự báo nhu cầu...
Một số đề xuất
Yêu cầu đặt ra hiện nay không chỉ là rà soát những điều khoản không phù hợp về kỹ thuật lập pháp hay sửa đổi, bổ sung một số quy định cụ thể của Luật Người cao tuổi năm 2009 mà việc hoàn thiện hệ thống pháp luật trong lĩnh vực này cần được xem xét nghiên cứu một số vấn đề sau:
Một là: Chuyển từ tư duy chính sách dành cho người cao tuổi sang tư duy xây dựng chính sách thích ứng với xã hội già hóa. Sự thay đổi phương pháp tiếp cận này sẽ góp phần chuyển trọng tâm xây dựng pháp luật từ việc chủ yếu giải quyết những nhu cầu, khó khăn phát sinh khi con người bước vào tuổi già sang chủ động chuẩn bị các điều kiện về thể chế, kinh tế, xã hội và dịch vụ công để thích ứng với quá trình già hóa dân số. Nếu chỉ xem người cao tuổi là một nhóm đối tượng, chính sách thường tập trung vào các chế độ dành riêng cho họ nhưng nếu nhìn già hóa dân số là một biến đổi cấu trúc thì các chính sách phát triển đều cần tính đến tác động của già hóa. Khi đó, các chính sách về y tế, lao động, giáo dục, nhà ở, giao thông, đô thị, công nghệ, an sinh xã hội và phát triển kinh tế… đều cần có nội dung thích ứng với già hóa dân số.
Hai là: Tăng cường liên thông giữa chính sách người cao tuổi với pháp luật về bảo hiểm xã hội, an sinh xã hội. Đây cần được coi là một trong những nội dung trọng tâm của quá trình sửa đổi, bổ sung pháp luật. Theo đó, những thay đổi của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 và Nghị định số 176/2025/NĐ-CP ngày 30/6/2025 của Chính phủ về trợ cấp hưu trí xã hội cho thấy chính sách an sinh đối với người cao tuổi đang tiếp tục được hoàn thiện. Vì vậy, khi nghiên cứu sửa đổi Luật Người cao tuổi năm 2009 cần đặt trong tổng thể hệ thống an sinh xã hội, tránh tình trạng quy định trùng lặp hoặc thiếu tính kết nối.
Đồng thời, từng bước hình thành khuôn khổ pháp lý về việc chăm sóc dài hạn đối với người cao tuổi. Cần nghiên cứu xác định rõ khái niệm, đối tượng, loại hình dịch vụ, tiêu chuẩn chất lượng, cơ chế cung ứng, nhân lực, cơ chế tài chính và trách nhiệm của các chủ thể. Đặc biệt cần chuyển cách tiếp cận từ “cơ sở chăm sóc” sang “hệ thống chăm sóc”, trong đó “cơ sở” chỉ là một bộ phận trong chuỗi các hoạt động dịch vụ có liên quan.
Ba là: Tạo dựng cơ chế pháp lý đủ mạnh để phát huy nguồn lực người cao tuổi. Pháp luật cần tiếp tục cụ thể hóa quyền được làm việc, học tập, tham gia xã hội, truyền thụ tri thức và kinh nghiệm của người cao tuổi. Cùng với đó, có cơ chế khuyến khích các mô hình sử dụng chuyên môn và kinh nghiệm của người cao tuổi; phát triển các hoạt động về tư vấn, cố vấn, đào tạo, truyền nghề, khởi nghiệp và hoạt động cộng đồng phù hợp.
Song song với chính sách nêu trên là phát triển nguồn nhân lực chăm sóc người cao tuổi. Cần quan tâm đồng thời đến việc đào tạo, chuẩn nghề nghiệp, đạo đức nghề nghiệp cũng như điều kiện lao động, cơ chế đãi ngộ và bảo vệ người thực hiện công việc chăm sóc người cao tuổi. Đây là cơ sở để chuyển việc chăm sóc người cao tuổi từ hoạt động mang tính gia đình, tự phát sang một lĩnh vực dịch vụ xã hội có tính chuyên nghiệp, phù hợp trong điều kiện phát triển mới.
Bốn là: Trong điều kiện tổ chức mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, cần tăng cường phân cấp, phân quyền gắn với trách nhiệm giải trình trong các hoạt động quản lý nhà nước có liên quan đến người cao tuổi. Hiện nay, các phương thức cung ứng dịch vụ công nói chung và các dịch vụ liên quan đến người cao tuổi nói riêng có sự thay đổi rất nhiều, địa phương cần có không gian để thiết kế các mô hình mới, nhưng sự thay đổi phải đi kèm với các tiêu chuẩn, cơ chế giám sát và đánh giá phù hợp. Cơ sở dữ liệu người cao tuổi cần được kết nối với hệ thống dữ liệu dân cư và các hệ thống thông tin có liên quan theo nguyên tắc bảo vệ dữ liệu cá nhân. Dữ liệu không chỉ phục vụ báo cáo thống kê mà quan trọng hơn để dự báo nhu cầu, phân bổ nguồn lực và đánh giá hiệu quả chính sách liên quan đến người cao tuổi.
Tóm lại, sau hơn 15 năm thực hiện, Luật Người cao tuổi năm 2009 đã khẳng định vai trò quan trọng trong việc tạo lập nền tảng pháp lý quan trọng cho công tác bảo vệ, chăm sóc và phát huy vai trò người cao tuổi ở Việt Nam. Luật đã thể chế hóa nhiều quyền của người cao tuổi, xác định trách nhiệm của gia đình, Nhà nước, xã hội, đặt nền móng cho chăm sóc sức khỏe, bảo trợ xã hội, phát triển các cơ sở chăm sóc và phát huy vai trò người cao tuổi. Những giá trị đó cần tiếp tục được kế thừa trong quá trình hoàn thiện pháp luật.
Tuy nhiên, bối cảnh kinh tế - xã hội hiện nay đã có sự thay đổi đáng kể so với thời điểm Luật Người cao tuổi năm 2009 được ban hành, từ đó bộc lộ những hạn chế, bất cập. Già hóa dân số ngày càng trở thành một vấn đề của xã hội; mô hình gia đình thay đổi; nhu cầu chăm sóc sức khỏe và chăm sóc dài hạn gia tăng; công nghệ làm thay đổi phương thức cung ứng dịch vụ; đồng thời người cao tuổi ngày càng được nhìn nhận không chỉ là đối tượng thụ hưởng mà còn là một nguồn lực xã hội quan trọng. Vì vậy, hoàn thiện pháp luật về người cao tuổi trong giai đoạn hiện nay vừa để đảm bảo an sinh xã hội vừa là yêu cầu để hiện thực hóa quyền con người, quyền công dân, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn mới./.
Ths Bùi Hải Thắng, Trường Chính trị Tô Hiệu