Nhằm hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội, tạo thêm công cụ tích lũy tài chính cho người lao động khi về già, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 85/2026/NĐ-CP ngày 25/3/2026 về bảo hiểm hưu trí bổ sung. Nghị định quy định cụ thể về đối tượng tham gia, cơ chế đóng góp, quản lý quỹ, đầu tư quỹ và quyền, trách nhiệm của các bên liên quan trong quá trình triển khai loại hình bảo hiểm này.
Đây được xem là bước tiến quan trọng trong việc đa dạng hóa chính sách hưu trí, bên cạnh chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc hiện hành; đồng thời góp phần giúp người lao động chủ động tích lũy thêm nguồn tài chính ổn định cho cuộc sống sau khi nghỉ hưu.
Theo điều 4 Nghị định, đối tượng tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung gồm người sử dụng lao động và người lao động đã tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội. Việc tham gia được thực hiện trên cơ sở tự nguyện thông qua người sử dụng lao động và các doanh nghiệp quản lý quỹ hưu trí.
Một điểm đáng chú ý là Điều 5 Nghị định khẳng định rõ: tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung không phải là điều kiện bắt buộc để tuyển dụng, ký kết hay gia hạn hợp đồng lao động. Người sử dụng lao động không được phân biệt đối xử hoặc gắn việc tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung với chính sách thi đua, khen thưởng, phúc lợi của doanh nghiệp. Mức đóng do người lao động và người sử dụng lao động tự thỏa thuận trên tinh thần tự nguyện.
Để triển khai chương trình bảo hiểm hưu trí bổ sung, người sử dụng lao động phải xây dựng văn bản thỏa thuận với người lao động, trong đó quy định cụ thể quyền lợi, nghĩa vụ, điều kiện hưởng phần đóng góp của doanh nghiệp cũng như các nội dung liên quan. Trường hợp có quy định thời gian làm việc tối thiểu để người lao động được hưởng phần đóng góp của doanh nghiệp thì thời gian này không vượt quá 5 năm.
Tại điểm 4 khoản 1 điêu 5 Nghị định cũng quy định rõ các trường hợp người lao động được hưởng phần đóng góp của người sử dụng lao động và kết quả đầu tư từ khoản đóng góp này, như: bị tử vong; mắc bệnh hiểm nghèo; suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên; là người khuyết tật đặc biệt nặng; hoặc lao động nước ngoài chấm dứt cư trú, hết hiệu lực giấy phép lao động mà không được gia hạn.
Về quyền lợi, theo điều 8 Nghị định, người lao động được tự nguyện tham gia, tạm dừng hoặc dừng tham gia chương trình; được hưởng ưu đãi về thuế thu nhập cá nhân đối với khoản đóng góp và khoản chi trả từ quỹ hưu trí bổ sung theo quy định pháp luật. Người lao động còn có quyền theo dõi tài khoản hưu trí cá nhân, được cung cấp thông tin định kỳ, được bảo mật thông tin và có quyền chỉ định người thừa kế hưởng quyền lợi từ quỹ hưu trí.
Đối với người sử dụng lao động, khoản đóng góp cho người lao động được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định của pháp luật thuế. Đồng thời, doanh nghiệp có quyền điều chỉnh nội dung thỏa thuận với người lao động và được nhận lại phần đóng góp của mình trong trường hợp người lao động không đáp ứng điều kiện hưởng theo thỏa thuận đã ký kết.
Nghị định dành nhiều nội dung quy định chặt chẽ về việc thiết lập và quản lý quỹ bảo hiểm hưu trí bổ sung. Theo khoản 1 điều 10, quỹ hưu trí được quản lý độc lập, tách biệt với tài sản của doanh nghiệp quản lý quỹ; nguồn hình thành từ đóng góp của người lao động, người sử dụng lao động và phần sinh lời từ hoạt động đầu tư quỹ.
Mỗi người tham gia được mở một hoặc nhiều tài khoản hưu trí cá nhân để theo dõi riêng các khoản đóng góp, kết quả đầu tư, chi phí quản lý và quyền lợi được hưởng. Số dư tài khoản hưu trí cá nhân không được dùng để chuyển nhượng, cầm cố hoặc giải quyết thủ tục phá sản của doanh nghiệp quản lý quỹ hay tổ chức lưu ký.
Một nội dung đáng chú ý khác là quy định về đầu tư quỹ bảo hiểm hưu trí bổ sung. Danh mục đầu tư chủ yếu gồm trái phiếu Chính phủ, trái phiếu chính quyền địa phương, tiền gửi ngân hàng thương mại, chứng chỉ tiền gửi, cổ phiếu niêm yết, trái phiếu niêm yết và chứng chỉ quỹ đầu tư chứng khoán. Nghị định đặt ra nhiều giới hạn về tỷ lệ đầu tư nhằm bảo đảm an toàn tài chính cho quỹ và hạn chế rủi ro.
Trong đó, quỹ có giá trị tài sản ròng từ 5 tỷ đồng trở lên phải đầu tư tối thiểu 40% giá trị tài sản vào trái phiếu Chính phủ; đầu tư vào chứng khoán niêm yết không vượt quá 30% tổng tài sản quỹ. Quỹ cũng không được gửi tiền tại doanh nghiệp quản lý quỹ hoặc các bên có liên quan nhằm tránh xung đột lợi ích.
Để tăng cường tính minh bạch và bảo vệ người tham gia, Nghị định quy định rõ trách nhiệm của ngân hàng giám sát, tổ chức lưu ký tài sản, tổ chức quản trị tài khoản hưu trí cá nhân cũng như cơ chế đền bù thiệt hại nếu xảy ra sai sót trong quản lý, đầu tư hoặc xác định giá trị tài sản ròng của quỹ. Trường hợp phát sinh thiệt hại do lỗi của tổ chức cung cấp dịch vụ, các đơn vị liên quan phải có trách nhiệm bồi thường cho người tham gia theo quy định.
Có thể thấy, Nghị định số 85/2026/NĐ-CP đã tạo hành lang pháp lý tương đối đầy đủ cho mô hình bảo hiểm hưu trí bổ sung tại Việt Nam. Việc triển khai hiệu quả chính sách này không chỉ giúp người lao động có thêm nguồn tài chính khi nghỉ hưu mà còn góp phần phát triển thị trường tài chính dài hạn, tăng cường ổn định an sinh xã hội trong bối cảnh già hóa dân số ngày càng rõ nét.