“Chủ động thực thi; phát huy động lực; tăng trưởng bứt phá”
Thời gian: 14/01/2026 08:54

Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Ngày 10/02/2020, bà P có ký với Ngân hàng TMCP S (gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng, bản Điều khoản và Điều kiện phát hành, sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng - các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của bà P, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 20,000,000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân.

Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, bà P đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 451,157,864 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay Bà P đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 432,890,323 đồng. Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng bà P vẫn không có thiện chí trả số tiền còn lại. Do Bà P vi phạm nghĩa vụ thanh toán, ngày 23/01/2023 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn là 23,335,825 đồng và tính lãi quá hạn hàng tháng trên dư nợ quá hạn, áp dụng lãi suất nợ quá hạn (là 150% của lãi suất được công bố và áp dụng tại thời điểm hiện tại, lãi suất trong hạn là 2,77%/tháng X 150%= 4,16%/tháng lãi quá hạn). Ngân hàng yêu cầu bà Nguyễn Thị Kim P phải trả ngay một lần cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 19/09/2025 là 54,672,908 đồng, trong đó: Nợ gốc: 23,335,825 đồn; Lãi quá hạn: 31,337,083 đồng.

Tại phiên tòa, sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân, Hội đồng xét xử nhận định: Phiên toà xét xử vụ án được mở vào lúc 09 giờ 00 ngày 22/8/2025 và 09 giờ 00 phút ngày 19/9/2025, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và thông báo về thời gian, địa điểm xét xử nêu trên nhưng bị đơn vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 (BLTTDS).

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị Kim P trả số tiền còn nợ. Đây là quan hệ pháp luật là tranh chấp hợp đồng tín dụng. Theo kết quả cung cấp thông tin của Công an phường C, thì “Công dân Nguyễn Thị Kim P không đăng ký thường trú, tạm trú hay thực tế cư trú tại địa chỉ C, thực tế hiện nay bà P đang đi du học tại Nhật Bản từ năm 2024 đến nay. Không rõ địa chỉ”. Việc bà Nguyễn Thị Kim P ghi địa chỉ cư trú của mình tại thời điểm giao kết hợp đồng là hoàn toàn tự nguyện, không trái đạo đức xã hội. Hiện nay bà P không có mặt tại địa phương mà không thông báo cho nguyên đơn Ngân hàng biết về nơi cư trú, nơi làm việc mới thì được coi là cố tình giấu địa chỉ; còn nguyên đơn ghi đầy đủ địa chỉ cư trú của bị đơn trong hợp đồng bằng văn bản, có chữ ký của cả hai bên.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn. Bà Nguyễn Thị Kim P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến Tòa án để trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhưng bà Nguyễn Thị Kim P vắng mặt không rõ lý do cũng như không cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án. Như vậy, bà P đã từ bỏ các quyền được pháp luật quy định. Tòa án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để giải quyết theo quy định của pháp luật.

Về yêu cầu của nguyên đơn: Ngân hàng và bà P ký kết Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng trên cơ sở tự nguyện, không trái pháp luật, đạo đức xã hội, tuân thủ các quy định của pháp luật về hình thức và nội dung nên được thừa nhận và bảo vệ và là căn cứ phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự theo quy định tại Điều 275 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, kể từ ngày kích hoạt thẻ đến nay bà P vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên ngày 23/1/2023, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiều sang nợ quá hạn. Do đó, việc Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà P trả toàn bộ số nợ còn lại và tiền lãi là phù hợp với quy định của pháp luật. Trong suốt quá trình tố tụng giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bà Nguyễn Thị Kim P nhưng bà P vẫn không đến Tòa án để giải quyết vụ kiện, không giao nộp bắt cứ tài liệu, chứng cứ nào để bảo vệ quyền lợi của mình, cũng như không có bất cứ sự phản đối nào đối với yêu cầu của nguyên đơn nên Hội đồng xét xử xét thấy không có căn cứ và không có cơ sở để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Nguyễn Thị Kim P. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn giao nộp và tài liệu, chứng cứ do Toà án thu thập để chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở buộc bà Nguyễn Thị Kim P có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng số tiền theo Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng) ký ngày 10/02/2020 tính đến ngày 19/9/2025 tổng cộng là 54,672,908 đồng, trong đó: Nợ gốc: 23,335,825 đồng; Lãi quá hạn : 31,337,083 đồng. Bà Nguyễn Thị Kim P còn phải trả tiền lãi tiếp tục phát sinh kể từ ngày 20/9/2025 cho đến khi bà Nguyễn Thị Kim P thanh toán xong toàn bộ khoản nợ theo mức lãi suất mà bà P đã thỏa thuận với Ngân hàng. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, bà Nguyễn Thị Kim P còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay. Các quyền và nghĩa vụ thi hành án của các đương sự được thực hiện tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.