Cuộc thi trực tuyên trên cổng pháp luật quốc gia tìm hiểu hiến pháp và pháp luật
Thời gian: 22/10/2026 08:51

Triển khai đồng bộ giải pháp bảo đảm an toàn thực phẩm trên địa bàn thành phố

Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng vừa ban hành Kế hoạch số 411/KH-UBND ngày 16/10/2026 triển khai Chỉ thị số 19-CT/TU ngày 28/8/2026 của Ban Thường vụ Thành ủy về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác quản lý nhà nước và phòng, chống tội phạm, vi phạm pháp luật về an toàn thực phẩm trên địa bàn thành phố.

Kế hoạch xác định bảo đảm an toàn thực phẩm là nhiệm vụ chính trị trọng tâm, thường xuyên của các cấp, các ngành. Kết quả thực hiện được dùng làm tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của người đứng đầu. Người đứng đầu các địa phương, đơn vị từ cấp thành phố đến cơ sở phải chịu trách nhiệm khi để xảy ra vi phạm pháp luật về an toàn thực phẩm trên địa bàn. Thành phố kiên quyết xử lý tập thể, cá nhân buông lỏng quản lý, chậm xử lý vi phạm hoặc bao che, tiếp tay cho các tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật về an toàn thực phẩm. Mục tiêu xuyên suốt của Kế hoạch là chuyển tư duy quản lý từ “kiểm soát từng khâu riêng lẻ” sang “quản lý toàn bộ chuỗi giá trị thực phẩm”. Việc kiểm soát được thực hiện chặt chẽ từ sản xuất ban đầu, sơ chế, chế biến, kinh doanh, lưu thông đến tiêu dùng, với phương châm phòng ngừa từ sớm, từ xa. Trọng tâm là các nhóm thực phẩm, lĩnh vực, địa bàn có nguy cơ cao, đồng thời khắc phục tình trạng quản lý phân tán, chồng chéo giữa các ngành. Kịp thời xử lý dứt điểm các điểm nóng về an toàn thực phẩm được dư luận xã hội, người tiêu dùng quan tâm, phản ánh trên địa bàn. Người đứng đầu các địa phương, đơn vị từ cấp thành phố tới cơ sở phải chịu trách nhiệm khi để xảy ra vi phạm pháp luật về an toàn thực phẩm trên địa bàn, xử lý nghiêm tổ chức, cá nhân thiếu trách nhiệm trong quản lý an toàn thực phẩm. Đồng thời, các nhiệm vụ được triển khai đồng bộ, phân công rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ thời gian, rõ kết quả; không chồng chéo, không bỏ sót; tăng cường phối hợp liên ngành, chia sẻ thông tin, dữ liệu và xử lý nghiêm vi phạm.

Để thực hiện các mục tiêu trên, Kế hoạch đề ra 11 nhóm nhiệm vụ và giải pháp thực hiện, cụ thể như sau:

1. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức triển khai thực hiện

Theo Kế hoạch, các sở, ban, ngành, đoàn thể và Ủy ban nhân dân các xã, phường, đặc khu tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác bảo đảm an toàn thực phẩm; tổ chức quán triệt, triển khai nghiêm túc các văn bản chỉ đạo của Trung ương, Thành ủy và Ủy ban nhân dân thành phố. Căn cứ chức năng, nhiệm vụ được giao, các đơn vị chủ động xây dựng kế hoạch hoặc lồng ghép vào chương trình công tác thường xuyên, bảo đảm không trùng lặp với nhiệm vụ đã giao tại các kế hoạch chuyên đề của thành phố. Các điểm nóng về an toàn thực phẩm được dư luận xã hội, người tiêu dùng quan tâm, phản ánh phải được xử lý dứt điểm. Kế hoạch nêu rõ, người đứng đầu các địa phương, đơn vị từ cấp thành phố tới cơ sở phải chịu trách nhiệm khi để xảy ra vi phạm pháp luật về an toàn thực phẩm trên địa bàn; tổ chức, cá nhân thiếu trách nhiệm trong quản lý an toàn thực phẩm bị xử lý nghiêm.

2. Công tác thông tin, truyền thông về an toàn thực phẩm

Đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến kiến thức pháp luật và kỹ năng bảo đảm an toàn thực phẩm bằng nhiều hình thức phù hợp; tăng cường cảnh báo về nguy cơ, tác động của tội phạm, vi phạm pháp luật về an toàn thực phẩm, chú trọng thông tin về thực phẩm giả, thực phẩm không rõ nguồn gốc xuất xứ và các hành vi vi phạm điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm. Nội dung, hình thức truyền thông được đổi mới nhằm nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh và người tiêu dùng. Các sở, ban, ngành chủ động tuyên truyền trong phạm vi lĩnh vực quản lý, phối hợp cung cấp thông tin cho báo chí, hệ thống truyền thông cơ sở, nền tảng số và mạng xã hội. Cùng với đó, thành phố tổ chức tập huấn nâng cao năng lực cho cán bộ quản lý và bồi dưỡng kiến thức an toàn thực phẩm cho các cơ sở sản xuất, kinh doanh; phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể; kịp thời biểu dương mô hình, điển hình và thông tin về các trường hợp vi phạm theo quy định. Các chương trình truyền thông chuyên sâu tập trung cảnh báo thủ đoạn sản xuất, kinh doanh thực phẩm giả, thực phẩm không rõ nguồn gốc xuất xứ và kịp thời thông tin kết quả xử lý vi phạm.

3. Kiểm soát chất lượng thực phẩm nhập khẩu và kịch bản ứng phó rủi ro

Thành phố xây dựng, triển khai Chương trình kiểm soát chất lượng thực phẩm nhập khẩu theo nguyên tắc quản lý rủi ro, tập trung vào nhóm hàng, lô hàng, tuyến vận chuyển và chủ thể có dấu hiệu nguy cơ cao. Nội dung kiểm soát gồm tính hợp pháp, đầy đủ, thống nhất của hồ sơ nhập khẩu, nguồn gốc xuất xứ, điều kiện bảo quản, vận chuyển và các chỉ tiêu an toàn thực phẩm theo quy định. Việc phối hợp kiểm tra, giám sát được tăng cường tại các khâu thông quan, lưu kho, phân phối và lưu thông trên thị trường, nhằm kịp thời phát hiện phương thức, thủ đoạn lợi dụng hoạt động nhập khẩu để đưa thực phẩm không bảo đảm an toàn vào tiêu thụ. Đồng thời thiết lập cơ chế trao đổi, chia sẻ thông tin cảnh báo giữa các lực lượng; chủ động xây dựng phương án ứng phó với nguy cơ từ thực phẩm nhập khẩu. Khi phát hiện hoặc có căn cứ nghi ngờ thực phẩm không bảo đảm an toàn, các cơ quan chức năng phải kịp thời xác minh, khoanh vùng, truy xuất nguồn gốc, lấy mẫu kiểm nghiệm, cảnh báo nguy cơ, ngăn chặn lưu thông, thu hồi hoặc xử lý theo thẩm quyền; xác định rõ nguồn hàng, phạm vi phân phối và trách nhiệm của tổ chức, cá nhân liên quan.

4. Xây dựng mô hình kiểu mẫu về an toàn thực phẩm

Thành phố xây dựng và triển khai Chương trình hành động thực hiện mô hình “Thành phố bảo đảm an toàn thực phẩm kiểu mẫu”. Mô hình được lựa chọn theo mức độ nguy cơ, đặc điểm sản xuất, kinh doanh và điều kiện thực tế của từng lĩnh vực, địa bàn; xác định rõ mục tiêu, phạm vi, tiêu chí đầu vào, kết quả đầu ra, lộ trình thực hiện, cơ chế giám sát và đánh giá. Thành phố ưu tiên xây dựng, hoàn thiện và nhân rộng các mô hình “Lò mổ an toàn thực phẩm”, “Bếp ăn khu công nghiệp an toàn thực phẩm”, mô hình chuỗi cung ứng thực phẩm an toàn và các mô hình khác phù hợp với loại hình kinh doanh, dịch vụ ăn uống. Mô hình “Trường học an toàn thực phẩm” thực hiện theo Kế hoạch số 365/KH-UBND ngày 21/9/2026 của UBND thành phố. Việc xây dựng, công nhận và duy trì mô hình căn cứ bộ tiêu chí cụ thể, có thể kiểm tra, đo lường và đánh giá định kỳ. Tối thiểu, cơ sở phải tuân thủ đầy đủ quy định pháp luật và điều kiện an toàn thực phẩm; có nguồn nguyên liệu rõ nguồn gốc, nhà cung cấp được kiểm soát và truy xuất được theo từng lô; bảo đảm điều kiện cơ sở vật chất, vệ sinh và quy trình tiếp nhận, sơ chế, chế biến, bảo quản, vận chuyển phù hợp; kiểm soát các mối nguy và lưu giữ hồ sơ; người trực tiếp sản xuất, chế biến được tập huấn và đáp ứng yêu cầu sức khỏe; có quy trình tự kiểm tra, tiếp nhận phản ánh, xử lý sự cố, truy xuất và thu hồi sản phẩm; không có vi phạm nghiêm trọng chưa được khắc phục. Đối với cơ sở giết mổ, tiêu chí chú trọng kiểm soát nguồn động vật, thú y, vệ sinh giết mổ và xử lý chất thải; đối với bếp ăn tập thể, chú trọng nhà cung cấp, kiểm thực, lưu mẫu, điều kiện chế biến, vận chuyển và chất lượng bữa ăn. Mô hình chỉ được nhân rộng khi đáp ứng tiêu chí, duy trì kết quả thực chất. Cơ sở không còn đáp ứng tiêu chí bị yêu cầu khắc phục, tạm dừng hoặc đưa ra khỏi mô hình. Các cơ quan, doanh nghiệp, nhà máy, trường học, đơn vị kinh doanh thực phẩm, nhà hàng được tổ chức ký cam kết không để xảy ra vi phạm về an toàn thực phẩm. Kế hoạch lưu ý, việc ký cam kết không thay thế điều kiện, giấy phép hoặc trách nhiệm pháp lý của cơ sở.

5. Kết nối dữ liệu, giám sát nguy cơ, truy xuất nguồn gốc và thu hồi thực phẩm

Các sở, ngành cập nhật, chuẩn hóa và chia sẻ dữ liệu chuyên ngành về cơ sở sản xuất, chế biến, vận chuyển, kinh doanh thực phẩm; phối hợp xây dựng, khai thác dữ liệu dùng chung, bảo đảm thống nhất đầu mối, tuân thủ quy định về bảo vệ dữ liệu và tránh hình thành các hệ thống trùng lặp. Việc lấy mẫu, kiểm nghiệm được tăng cường theo kế hoạch và khi có dấu hiệu nguy cơ; sản phẩm không bảo đảm an toàn được cảnh báo, truy xuất nguồn gốc, thu hồi hoặc xử lý theo thẩm quyền. Khuyến khích ứng dụng công nghệ cao, công nghệ sinh học, công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong sản xuất nông nghiệp, chế biến thực phẩm và quản lý an toàn thực phẩm; hỗ trợ hộ gia đình, hợp tác xã, doanh nghiệp kết nối chuỗi giá trị cung ứng thực phẩm an toàn. Thiết lập và duy trì cơ chế tiếp nhận, phân loại, chuyển xử lý thông tin phản ánh về an toàn thực phẩm trong vòng 24 giờ. Khi xảy ra hoặc nghi ngờ xảy ra sự cố, ngộ độc thực phẩm, cơ quan tiếp nhận thông tin phải kịp thời thông báo cơ quan y tế và cơ quan quản lý chuyên ngành để phối hợp cấp cứu, điều tra, xác định nguyên nhân, truy xuất nguồn gốc, khoanh vùng và xử lý nguồn nguy cơ.

6. Kiểm tra, xử lý vi phạm và phòng, chống tội phạm về an toàn thực phẩm

Việc kiểm tra, hậu kiểm được tổ chức có trọng tâm, trọng điểm theo nguyên tắc quản lý rủi ro, tập trung vào cơ sở, sản phẩm, công đoạn và địa bàn có nguy cơ cao; kết hợp kiểm tra theo kế hoạch với kiểm tra đột xuất khi có dấu hiệu vi phạm, phản ánh của người dân hoặc sự cố an toàn thực phẩm. Nội dung kiểm tra gồm các điều kiện pháp lý, nguồn gốc nguyên liệu, quy trình sản xuất, chế biến, bảo quản, vận chuyển, ghi nhãn, quảng cáo, kinh doanh trên môi trường mạng và việc khắc phục vi phạm sau kiểm tra. Các hành vi sản xuất, kinh doanh thực phẩm giả, nhập lậu, không rõ nguồn gốc, hết hạn sử dụng, không bảo đảm chất lượng, sử dụng chất cấm hoặc hóa chất ngoài danh mục cho phép phải được phát hiện sớm, ngăn chặn và xử lý nghiêm; không để hàng hóa vi phạm tiếp tục lưu thông. Kế hoạch yêu cầu khắc phục tình trạng kiểm tra hình thức, chồng chéo hoặc bỏ sót địa bàn, đối tượng có nguy cơ cao. Cùng với đó, lực lượng chức năng chủ động nắm tình hình, tập trung phát hiện, điều tra, xử lý các đường dây sản xuất, buôn bán thực phẩm giả, thực phẩm nhập lậu, hành vi làm giả hồ sơ, hợp thức hóa nguồn gốc hoặc bao che, tiếp tay cho vi phạm; không để hình thành điểm nóng, đường dây, ổ nhóm hoạt động kéo dài.

7. Kiểm soát chuỗi cung ứng thực phẩm an toàn

Việc kiểm soát an toàn thực phẩm được tổ chức từ khâu sản xuất ban đầu; các cơ sở sản xuất nông, lâm, thủy sản, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, giết mổ động vật, sơ chế, bảo quản thực phẩm trên địa bàn được rà soát, quản lý chặt chẽ. Đối với hoạt động giết mổ, yêu cầu vận hành thực chất mô hình “Lò mổ an toàn thực phẩm”, kiểm soát chặt chẽ nguồn gốc động vật, điều kiện vệ sinh thú y, quy trình giết mổ, bảo quản và vận chuyển sản phẩm.

Bên cạnh đó, thành phố xây dựng các chuỗi giá trị cung ứng thực phẩm an toàn, chất lượng; ưu tiên phát triển các vùng chuyên canh, sản xuất nông nghiệp sạch, an toàn; đầu tư nâng cấp hạ tầng, hình thành mạng lưới bảo quản, chế biến, logistics, thương mại điện tử ở nông thôn; hỗ trợ kết nối cung cầu, xúc tiến thương mại, phát triển thương hiệu các sản phẩm đặc sản địa phương. Việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, thuốc thú y, hóa chất, chất kích thích tăng trưởng, chất cấm trong sản xuất, chăn nuôi, chế biến thực phẩm được kiểm tra chặt chẽ; hoạt động vận chuyển, tập kết, trung chuyển động vật, sản phẩm động vật được kiểm soát. Các lĩnh vực, địa bàn, nhóm cơ sở có nguy cơ cao được định kỳ rà soát, phân loại, đánh giá để xác định trọng tâm kiểm tra, giám sát.

8. Bảo đảm an toàn thực phẩm tại khu du lịch, lễ hội, sự kiện và cơ sở phục vụ khách du lịch

Chủ động đánh giá nguy cơ an toàn thực phẩm theo mùa du lịch, quy mô khách, loại hình dịch vụ và tính chất từng lễ hội, sự kiện; lồng ghép yêu cầu bảo đảm an toàn thực phẩm vào phương án tổ chức, bố trí khu vực kinh doanh, cấp nước sạch, thu gom chất thải và phương án ứng phó sự cố. Việc hướng dẫn, kiểm tra được tăng cường trước, trong và sau các sự kiện, ưu tiên cơ sở dịch vụ ăn uống, hàng quán lưu động, điểm bán thức ăn đường phố, cơ sở lưu trú và nơi tập trung đông người. Các cơ sở phải kiểm soát nguồn gốc nguyên liệu, điều kiện chế biến, bảo quản, vận chuyển, nguồn nước và nước đá dùng trong ăn uống; phân biệt thực phẩm sống, chín và bố trí người chế biến đáp ứng yêu cầu. Khi có nguy cơ ngộ độc hoặc sự cố, phải kịp thời dừng cung cấp thực phẩm liên quan, tổ chức cấp cứu, lưu giữ mẫu và hồ sơ, truy xuất nguồn gốc, khoanh vùng, điều tra và xử lý theo quy định.

9. Bảo đảm an toàn thực phẩm tại khu công nghiệp, khu kinh tế

Thành phố tập trung nâng cao hiệu quả mô hình “Bếp ăn khu công nghiệp an toàn thực phẩm”, bảo đảm kiểm soát nguồn cung cấp nguyên liệu, quy trình chế biến, bảo quản, vận chuyển và phục vụ suất ăn cho người lao động. Danh sách doanh nghiệp, bếp ăn tập thể, đơn vị cung cấp suất ăn công nghiệp, cơ sở cung ứng nguyên liệu và đầu mối vận chuyển, phân phối thực phẩm trong khu công nghiệp, khu kinh tế được rà soát, cập nhật thường xuyên, phân loại theo quy mô và mức độ nguy cơ để giám sát phù hợp. Trách nhiệm của doanh nghiệp sử dụng lao động, đơn vị tổ chức bếp ăn và nhà cung cấp thực phẩm được làm rõ. Kiểm soát xuyên suốt từ lựa chọn nhà cung cấp, nguồn gốc nguyên liệu, tiếp nhận, sơ chế, chế biến, chia suất, vận chuyển đến bảo quản và phục vụ; thực hiện đầy đủ việc kiểm thực, lưu mẫu thức ăn và lưu hồ sơ truy xuất. Đáng chú ý, doanh nghiệp không được lựa chọn nhà cung cấp chỉ căn cứ vào giá thấp mà bỏ qua điều kiện an toàn, năng lực cung ứng và khả năng truy xuất nguồn gốc. Cơ sở vi phạm bị yêu cầu khắc phục có thời hạn, xử lý theo thẩm quyền và không được tiếp tục cung cấp suất ăn khi chưa bảo đảm điều kiện an toàn.

Ủy ban nhân dân thành phố giao Sở Y tế chủ trì, tổng hợp chung; tham mưu xây dựng Chương trình hành động “Thành phố bảo đảm an toàn thực phẩm kiểu mẫu” (hoàn thành trong quý I/2027); tăng cường kiểm tra, giám sát bếp ăn tập thể trường học, bệnh viện, doanh nghiệp và cơ sở dịch vụ ăn uống; củng cố hệ thống kiểm nghiệm và tổ chức khắc phục sự cố an toàn thực phẩm. Sở Công Thương chủ trì Chương trình kiểm soát chất lượng thực phẩm nhập khẩu hằng năm, kiểm tra chuyên đề tại chợ đầu mối, trung tâm thương mại, siêu thị, kho lạnh và hoạt động kinh doanh thực phẩm trên thương mại điện tử. Sở Nông nghiệp và Môi trường chủ trì kiểm soát an toàn thực phẩm từ khâu sản xuất ban đầu, xây dựng kế hoạch nhân rộng mô hình “Lò mổ an toàn thực phẩm” (hoàn thành trong quý I/2027).

Công an thành phố chủ trì xây dựng cơ sở dữ liệu tập trung về các tổ chức, cá nhân tham gia chuỗi thực phẩm và hệ thống truy xuất nguồn gốc; tổng rà soát, đánh giá toàn diện các tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực thực phẩm (hoàn thành trong quý IV/2026); đấu tranh, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm theo tinh thần “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”. 

Sở Giáo dục và Đào tạo chủ trì mô hình “Trường học an toàn thực phẩm” (hoàn thành trong quý I/2027), tổ chức ký cam kết trong các cơ sở giáo dục (hoàn thành trong quý IV/2026). 

Ban Quản lý Khu kinh tế Hải Phòng chủ trì mô hình “Bếp ăn khu công nghiệp an toàn thực phẩm” (hoàn thành trong quý I/2027) và tổ chức cho doanh nghiệp, bếp ăn tập thể ký cam kết (hoàn thành trong quý IV/2026). 

Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Sở Tài chính, Sở Khoa học và Công nghệ, Chi cục Hải quan khu vực III, Báo và Phát thanh, Truyền hình Hải Phòng thực hiện các nhiệm vụ theo chức năng được giao.

Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố và các tổ chức chính trị - xã hội được đề nghị đẩy mạnh vận động, phát động phong trào toàn dân tham gia bảo đảm an toàn thực phẩm, phát huy vai trò giám sát của Nhân dân. 

Ủy ban nhân dân các xã, phường, đặc khu chịu trách nhiệm toàn diện về công tác bảo đảm an toàn thực phẩm trên địa bàn; đưa mục tiêu, chỉ tiêu an toàn thực phẩm vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hằng năm; xây dựng quy chế phối hợp giữa Công an cấp xã, Trạm Y tế, cơ quan chuyên môn và các tổ chức chính trị - xã hội trong quản lý, kiểm tra, xử lý vi phạm; chịu trách nhiệm trước cấp trên nếu để xảy ra mất an toàn thực phẩm, ngộ độc thực phẩm do buông lỏng quản lý.

Có thể thấy, Kế hoạch số 411/KH-UBND là bước cụ thể hóa Chỉ thị số 19-CT/TU của Ban Thường vụ Thành ủy, với các nhiệm vụ được phân công rõ ràng, có thời hạn hoàn thành và gắn với trách nhiệm người đứng đầu. Việc triển khai đồng bộ, quyết liệt các giải pháp của Kế hoạch góp phần bảo vệ sức khỏe Nhân dân, xây dựng môi trường sản xuất, kinh doanh thực phẩm lành mạnh trên địa bàn thành phố.

Hà Chi

TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ VỀ PHỔ BIẾN GIÁO DỤC PHÁP LUẬT

Cơ quan chủ quản: UBND thành phố Hải Phòng

Cơ quan quản lý: Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng

Trưởng Ban biên tập: Ngô Quang Giáp, Ủy viên Thành ủy, Giám đốc Sở Tư pháp

Thống kê truy cập: 0

Liên hệ

 Địa chỉ: Tòa nhà E, Trung tâm Chính trị - Hành chính, Khu đô thị Bắc sông Cấm, phường Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng

 Điện thoại: 0225.3846314

 Fax: 0225.3640091

 Email: sotp@haiphong.gov.vn