“Chủ động thực thi; phát huy động lực; tăng trưởng bứt phá”
Thời gian: 14/01/2026 08:37

Luật Quy hoạch – nền tảng pháp lý định hình không gian phát triển quốc gia trong giai đoạn mới

Trong tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, yêu cầu đặt ra đối với công tác quản lý phát triển là phải có tầm nhìn dài hạn, cách tiếp cận tổng thể, khắc phục triệt để tư duy nhiệm kỳ, cục bộ, manh mún. Trước thực tiễn đó, Luật Quy hoạch 2025 (Luật số 112/2025/QH15), được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/03/2026, thay thế cho Luật Quy hoạch 2017 đã đánh dấu bước chuyển căn bản trong tư duy và phương thức lập quy hoạch ở Việt Nam, từ “quy hoạch phân mảnh theo ngành, lĩnh vực” sang “quy hoạch tích hợp, thống nhất, đồng bộ”.

Luật Quy hoạch 2025 là thiết chế pháp lý quan trọng, giữ vai trò dẫn dắt, định hướng, phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực phát triển của quốc gia; đồng thời là căn cứ để hoạch định chính sách, tổ chức không gian phát triển, thu hút đầu tư và bảo đảm lợi ích lâu dài của Nhà nước, doanh nghiệp và Nhân dân.

1. Hệ thống quy hoạch quốc gia – cấu trúc thống nhất, thứ bậc rõ ràng

Một trong những điểm cốt lõi của Luật Quy hoạch là việc thiết lập hệ thống quy hoạch quốc gia thống nhất, khắc phục tình trạng “mỗi ngành một quy hoạch, mỗi địa phương một hướng”, thiếu liên kết và thường xuyên mâu thuẫn như trước đây.

Theo Luật, hệ thống quy hoạch quốc gia bao gồm:

Quy hoạch tổng thể quốc gia;

Quy hoạch không gian biển quốc gia;

Quy hoạch sử dụng đất quốc gia;

Quy hoạch ngành quốc gia;

Quy hoạch vùng;

Quy hoạch tỉnh;

Các quy hoạch có tính chất kỹ thuật, chuyên ngành theo pháp luật có liên quan.

Cách thiết kế này bảo đảm tính thứ bậc, tính kế thừa và tính liên thông, trong đó quy hoạch cấp dưới phải phù hợp, cụ thể hóa quy hoạch cấp trên; đồng thời quy hoạch cấp trên tạo “khung định hướng” cho các quy hoạch chi tiết hơn. Đây là nền tảng quan trọng để bảo đảm sự thống nhất trong quản lý nhà nước, tránh lãng phí nguồn lực và xung đột lợi ích.

2. Tổ chức lập quy hoạch – phân cấp gắn với trách nhiệm giải trình

Luật Quy hoạch quy định rõ chủ thể tổ chức lập quy hoạch, qua đó xác lập trách nhiệm pháp lý và trách nhiệm chính trị của từng cấp, từng ngành.

Chính phủ là cơ quan tổ chức lập các quy hoạch mang tính chiến lược, bao trùm toàn bộ lãnh thổ và không gian phát triển quốc gia, bao gồm quy hoạch tổng thể quốc gia, quy hoạch không gian biển quốc gia và quy hoạch sử dụng đất quốc gia. Đây là những quy hoạch có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, quyết định định hướng phát triển dài hạn của đất nước.

Các Bộ, cơ quan ngang Bộ được giao tổ chức lập quy hoạch ngành quốc gia; Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức lập quy hoạch tỉnh – loại quy hoạch có tính tích hợp cao, kết nối trực tiếp giữa quy hoạch cấp quốc gia, cấp vùng với thực tiễn phát triển của từng địa phương.

Luật cũng cho phép lập đồng thời nhiều quy hoạch trong các trường hợp đặc biệt như dự án quan trọng quốc gia, dự án đầu tư công khẩn cấp hoặc theo chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư. Quy định này thể hiện sự linh hoạt của pháp luật, vừa bảo đảm kỷ cương quy hoạch, vừa đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh trong những thời điểm then chốt.

3. Căn cứ và đề cương lập quy hoạch – bảo đảm tính khoa học, dài hạn

Để tránh tình trạng quy hoạch thiếu cơ sở thực tiễn hoặc mang nặng tính chủ quan, Luật Quy hoạch quy định rõ các căn cứ bắt buộc khi lập quy hoạch, bao gồm chiến lược phát triển kinh tế – xã hội, các quy hoạch thời kỳ trước và các quy hoạch có liên quan. Đây là yêu cầu nhằm bảo đảm tính kế thừa, liên tục và ổn định trong định hướng phát triển.

Đề cương lập quy hoạch được xác định là “bản khung” định hướng toàn bộ quá trình xây dựng quy hoạch. Trong đề cương phải xác định rõ mục tiêu, phạm vi, nội dung nghiên cứu, phương pháp tiếp cận, tiến độ thực hiện và trách nhiệm của từng cơ quan, tổ chức. Việc phê duyệt đề cương cũng được phân cấp cụ thể, gắn với thẩm quyền tổ chức lập quy hoạch, qua đó nâng cao tính chủ động và trách nhiệm của cơ quan được giao nhiệm vụ.

4. Vai trò của tư vấn lập quy hoạch – nâng cao chất lượng chuyên môn

Luật Quy hoạch khẳng định vai trò quan trọng của tổ chức tư vấn lập quy hoạch, coi đây là lực lượng trực tiếp góp phần quyết định chất lượng quy hoạch. Việc lựa chọn tư vấn được thực hiện theo quy định của pháp luật về đấu thầu, bảo đảm công khai, minh bạch, cạnh tranh lành mạnh.

Đối với tư vấn nước ngoài, Luật đặt ra yêu cầu chặt chẽ về bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ bí mật nhà nước và phù hợp với khả năng cân đối nguồn lực. Cách tiếp cận này vừa mở rộng khả năng tiếp thu kinh nghiệm quốc tế, vừa bảo đảm lợi ích quốc gia – dân tộc.

5. Đánh giá môi trường chiến lược – trụ cột của phát triển bền vững

Một điểm tiến bộ nổi bật của Luật Quy hoạch là yêu cầu đánh giá môi trường chiến lược phải được thực hiện đồng thời với quá trình lập và thẩm định quy hoạch. Đây là công cụ quan trọng để nhận diện sớm các tác động tiêu cực đến môi trường, tài nguyên thiên nhiên và đời sống cộng đồng, từ đó điều chỉnh định hướng phát triển theo hướng bền vững.

Thông qua đánh giá môi trường chiến lược, các vấn đề như biến đổi khí hậu, nước biển dâng, suy thoái tài nguyên, mất cân bằng sinh thái được xem xét ngay từ khâu quy hoạch, thay vì xử lý bị động khi hệ lụy đã phát sinh.

6. Lấy ý kiến và tham vấn xã hội – mở rộng dân chủ trong quy hoạch

Luật Quy hoạch dành dung lượng đáng kể để quy định về lấy ý kiến đối với quy hoạch, coi đây là khâu bắt buộc, không mang tính hình thức. Các cơ quan, tổ chức, cộng đồng dân cư và cá nhân có quyền tham gia góp ý thông qua nhiều hình thức như văn bản, hội nghị, hội thảo, đăng tải công khai trên cổng thông tin điện tử và hệ thống thông tin quốc gia về quy hoạch.

Việc công khai ý kiến góp ý và trách nhiệm giải trình, tiếp thu của cơ quan lập quy hoạch góp phần nâng cao tính minh bạch, tạo sự đồng thuận xã hội, đồng thời hạn chế khiếu kiện, tranh chấp phát sinh trong quá trình thực hiện quy hoạch.

7. Nội dung các loại quy hoạch – tiếp cận tích hợp, liên kết đa chiều

Luật Quy hoạch quy định cụ thể nội dung của từng loại quy hoạch, trong đó nhấn mạnh yêu cầu tích hợp, liên kết giữa các ngành, lĩnh vực và địa phương.

Quy hoạch tổng thể quốc gia đóng vai trò định hướng chiến lược, xác định mô hình phát triển không gian, hệ thống đô thị, kết cấu hạ tầng, phân bố dân cư, sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường trên phạm vi cả nước.

Quy hoạch vùng tập trung giải quyết các vấn đề liên tỉnh, liên ngành như phát triển hành lang kinh tế, kết nối hạ tầng, bảo vệ lưu vực sông, vùng sinh thái đặc thù.

Quy hoạch tỉnh là quy hoạch tích hợp cao nhất ở cấp địa phương, vừa cụ thể hóa các định hướng quốc gia, vùng, vừa phản ánh điều kiện, tiềm năng, lợi thế riêng của từng địa phương.

8. Thẩm định, phê duyệt quy hoạch – bảo đảm chất lượng và tính khả thi

Để bảo đảm quy hoạch được xây dựng chặt chẽ, Luật Quy hoạch quy định quy trình thẩm định nghiêm ngặt, với sự tham gia của các cơ quan quản lý nhà nước, chuyên gia độc lập và nhà khoa học. Nội dung thẩm định tập trung vào tính hợp pháp, tính thống nhất, tính khả thi và mức độ tích hợp của quy hoạch.

Thẩm quyền quyết định hoặc phê duyệt quy hoạch được phân định rõ từ Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ đến các Bộ trưởng và Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp, bảo đảm nguyên tắc tập trung – dân chủ và trách nhiệm giải trình.

9. Công bố, cung cấp thông tin quy hoạch – nền tảng cho minh bạch và đầu tư

Luật Quy hoạch yêu cầu quy hoạch sau khi được phê duyệt phải được công bố công khai, trừ nội dung thuộc bí mật nhà nước. Hệ thống thông tin quốc gia về quy hoạch được xây dựng thống nhất, ứng dụng công nghệ số, giúp người dân, doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận, tra cứu thông tin.

Việc công khai quy hoạch không chỉ nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước mà còn tạo môi trường đầu tư minh bạch, ổn định, góp phần thu hút nguồn lực xã hội cho phát triển.

10. Đánh giá, điều chỉnh quy hoạch – bảo đảm tính linh hoạt, thích ứng

Luật Quy hoạch thiết kế cơ chế đánh giá định kỳ và điều chỉnh quy hoạch, nhằm bảo đảm quy hoạch luôn phù hợp với thực tiễn phát triển. Trong những trường hợp đặc biệt, Luật cho phép điều chỉnh theo trình tự rút gọn, đáp ứng yêu cầu cấp bách về phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh và ứng phó với biến đổi khí hậu.

Có thể khẳng định, Luật Quy hoạch là bước đột phá quan trọng trong hoàn thiện thể chế phát triển của đất nước. Luật không chỉ góp phần nâng cao chất lượng quy hoạch mà còn tạo lập tư duy phát triển mới, lấy quy hoạch làm công cụ điều phối, dẫn dắt và phân bổ nguồn lực một cách hiệu quả, bền vững.

Việc tổ chức triển khai nghiêm túc, đồng bộ Luật Quy hoạch sẽ góp phần xây dựng nền quản trị quốc gia hiện đại, minh bạch; thúc đẩy liên kết vùng, phát huy lợi thế so sánh của từng địa phương; đồng thời bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và Nhân dân, hướng tới mục tiêu phát triển đất nước nhanh, bền vững trong dài hạn.

TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ VỀ PHỔ BIẾN GIÁO DỤC PHÁP LUẬT

Cơ quan chủ quản: UBND thành phố Hải Phòng

Cơ quan quản lý: Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng

Trưởng Ban biên tập: Ngô Quang Giáp, Ủy viên Thành ủy, Giám đốc Sở Tư pháp

Thống kê truy cập: 0

Liên hệ

 Địa chỉ: Tòa nhà E, Trung tâm Chính trị - Hành chính, Khu đô thị Bắc sông Cấm, phường Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng

 Điện thoại: 0225.3846314

 Fax: 0225.3640091

 Email: sotp@haiphong.gov.vn