Ngày 13/02/2026, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 58/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định liên quan đến quy định điều kiện về an ninh, trật tự đối với một số ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện; quản lý và sử dụng con dấu; quản lý, sử dụng pháo; quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật cư trú, Luật Căn cước. Trong đó, những nội dung được quy định trong Nghị định số 58/2026/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 70/2024/NĐ-CP liên quan đến việc thi hành Luật Căn cước) góp phần tạo thuận lợi hơn cho người dân trong giải quyết thủ tục hành chính.
Điều chỉnh thông tin của công dân trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư
Tại khoản 6 Điều 5 của Nghị định số 58/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung các quy định liên quan đến trách nhiệm của Công an cấp xã về thu thập, cập nhật thông tin công dân vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, cụ thể: Công an cấp xã nơi công dân cư trú có trách nhiệm thu thập, cập nhật thông tin về công dân cư trú trên địa bàn quản lý vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư từ việc giải quyết thủ tục đăng ký, khai báo, điều chỉnh thông tin cư trú của công dân; sổ sách quản lý về cư trú; tàng thư; từ việc giải quyết cấp, cấp đổi, cấp lại thẻ căn cước; phối hợp với cơ quan có thẩm quyền thu thập, cập nhật thông tin của công dân từ Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử hoặc giấy tờ, sổ sách quản lý hộ tịch. Trường hợp thông tin, giấy tờ, tài liệu nêu trên về công dân chưa có hoặc chưa đầy đủ thì được thu thập, cập nhật từ công dân thông qua Phiếu thu thập thông tin dân cư, Phiếu đề nghị giải quyết thủ tục về căn cước.
Nghị định cũng sửa đổi, bổ sung quy định về việc điều chỉnh thông tin công dân trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Theo đó, trường hợp công dân phát hiện thông tin do mình cung cấp để cập nhật vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, Cơ sở dữ liệu căn cước có sự thay đổi hoặc sai sót thì đề nghị Công an cấp xã thực hiện điều chỉnh thông tin trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Trình tự, thủ tục điều chỉnh thông tin trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư theo đề nghị của công dân thực hiện như sau: Công dân đề nghị điều chỉnh thông tin trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư qua Cơ sở dữ liệu căn cước, Cổng dịch vụ công quốc gia hoặc qua Ứng dụng định danh quốc gia (VNeID) hoặc trực tiếp tại cơ quan Công an nơi gần nhất. Hồ sơ đề nghị gồm có: Phiếu đề nghị giải quyết thủ tục về căn cước và tài liệu chứng minh thông tin cần điều chỉnh.
Trường hợp cơ quan Công an nơi tiếp nhận hồ sơ không phải là Công an cấp xã mà công dân cư trú thì cơ quan Công an nơi tiếp nhận phải chuyển ngay hồ sơ đề nghị điều chỉnh thông tin tới Công an cấp xã nơi công dân thường trú hoặc nơi tạm trú đối với trường hợp công dân không có nơi thường trú hoặc nơi ở hiện tại đối với trường hợp công dân không có nơi thường trú, nơi tạm trú để giải quyết và thông báo kết quả cho công dân
Trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị điều chỉnh thông tin của công dân, Trưởng Công an cấp xã nơi công dân cư trú có trách nhiệm kiểm tra tính pháp lý, tính chính xác của các thông tin trước khi điều chỉnh trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư; trường hợp từ chối điều chỉnh thông tin thì phải trả lời, nêu rõ lý do.
Bổ sung thẩm quyền khai thác thông tin của Công an cấp xã
Nghị định số 58/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung khoản 4, khoản 5 Điều 9 của Nghị định số 70/2024/NĐ-CP về thẩm quyền khai thác thông tin trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư của Công an cấp xã; theo đó: Trưởng Công an cấp xã có thẩm quyền khai thác thông tin trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư để cung cấp cho cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở cấp xã, tổ chức khác có trụ sở chính trên địa bàn quản lý và cá nhân cư trú trên địa bàn quản lý theo quy định khi có yêu cầu khai thác, cung cấp thông tin bằng văn bản.
Trong thời đại công nghệ số, thông tin cá nhân trở thành một nguồn tài nguyên và việc bảo vệ các thông tin đó giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Quyền tiếp cận thông tin cùng với yêu cầu bảo vệ dữ liệu cá nhân không chỉ góp phần bảo đảm quyền con người mà còn có ý nghĩa tăng cường an ninh thông tin, an toàn không gian mạng và niềm tin của người dân đối với hoạt động của cơ quan nhà nước. Do đó, việc Nghị định số 58/2026/NĐ-CP quy định thẩm quyền của Trưởng Công an cấp xã trong việc khai thác thông tin trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư để cung cấp cho cơ quan nhà nước trong những trường hợp do pháp luật quy định vừa khẳng định tầm quan trọng của việc bảo vệ dữ liệu cá nhân vừa đề cao trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan Công an cấp xã.
Ngoài ra, Nghị định số 58/2026/NĐ-CP còn bổ sung quy định về việc xác lập số định danh cá nhân đối với công dân khi ghi vào sổ hộ tịch việc khai sinh đã đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam về việc được cấp số định danh cá nhân.
Giảm bớt thủ tục hành chính, tạo thuận lợi hơn cho người dân
Để tạo thuận lợi cho người dân trong triển khai thực hiện, Nghị định số 58/2026/NĐ-CP đã bãi bỏ quy định về việc hủy, xác lập lại số định danh cá nhân đối với các trường hợp sau đây: (1) Được xác định lại giới tính, cải chính hộ tịch do có sai sót về năm sinh theo quy định pháp luật về đăng ký hộ tịch và pháp luật khác có liên quan; (2) Có sai sót về thông tin nơi đăng ký khai sinh, năm sinh, giới tính của công dân khi thu thập vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Đối với nội dung này, tại khoản 8 Điều 11 Nghị định số 70/2024/NĐ-CP có quy định: Việc hủy, xác lập lại số định danh cá nhân đối với trường hợp nêu trên được thực hiện theo nhu cầu của công dân; trường hợp công dân không có nhu cầu hủy, xác lập lại số định danh cá nhân thì tiếp tục sử dụng số định danh cá nhân đang sử dụng. Tuy nhiên, trong thực tiễn phát sinh vấn đề: Mặc dù công dân không có nhu cầu hủy nhưng khi thực hiện một số giao dịch dân sự thì nhiều đơn vị, tổ chức buộc công dân phải hủy, xác lập lại số định danh cá nhân mới giải quyết các giao dịch dân sự đó (ví dụ như việc cung cấp các dịch vụ tín dụng tại ngân hàng…). Vì vậy, việc bãi bỏ quy định này trong Nghị định số 58/2026/NĐ-CP nhằm đơn giản hóa thủ tục hành chính, giảm phiền hà cho người dân trong quá trình áp dụng.
Một điểm mới khác của Nghị định số 58/2026/NĐ-CP là việc sửa đổi, bổ sung quy định về trình tự, thủ tục thu thập, cập nhật, điều chỉnh thông tin đối với người gốc Việt Nam chưa xác định được quốc tịch vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, Cơ sở dữ liệu căn cước và cấp giấy chứng nhận căn cước theo hướng: Giao trách nhiệm thu thập, cập nhật, điều chỉnh thông tin của người gốc Việt Nam chưa xác định được quốc tịch vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, Cơ sở dữ liệu căn cước và thu nhận hồ sơ cấp giấy chứng nhận căn cước cho người gốc Việt Nam chưa xác định được quốc tịch cho Công an cấp xã trong phạm vi đơn vị hành chính cấp tỉnh nơi người đó sinh sống hoặc cơ quan quản lý căn cước của Công an cấp tỉnh để đề nghị thu thập, cập nhật thông tin vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, Cơ sở dữ liệu căn cước. Quy định mới theo hướng này không chỉ tạo điều kiện thuận lợi cho công dân mà còn xác định rõ thẩm quyền của Công an cấp tỉnh, cấp xã, phù hợp với mô hình chính quyền địa phương 2 cấp.
Những sửa đổi, bổ sung trong Nghị định số 58/2026/NĐ-CP ngày 13/02/2026 của Chính phủ góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý về công tác quản lý các ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự; đẩy mạnh cải cách hành chính và chuyển đổi số nhằm nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước đối với các lĩnh vực này, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp trong quá trình thực hiện thủ tục hành chính, hướng tới việc xây dựng kinh tế số, xã hội số.
Phạm Liên - Trường Chính trị Tô Hiệu