Thôn, tổ dân phố là những thiết chế tự quản quan trọng, giữ vai trò cầu nối trực tiếp giữa chính quyền cơ sở với Nhân dân. Trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, hiệu quả hoạt động của thôn, tổ dân phố có tác động trực tiếp đến chất lượng quản trị ở cơ sở. Việc triển khai mô hình chính quyền địa phương 2 cấp từ ngày 01/7/2025 đã đặt ra những yêu cầu mới đối với đội ngũ Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố. Họ không chỉ thực hiện vai trò đại diện cộng đồng dân cư mà còn tham gia tích cực vào việc tuyên truyền, vận động Nhân dân, phối hợp thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước, hỗ trợ chính quyền cấp xã trong triển khai các chủ trương, chính sách và ứng dụng công nghệ số ở cơ sở. Trong bối cảnh đó, Nghị định số 185/2026/NĐ-CP được Chính phủ ban hành ngày 26/5/2026 đã sửa đổi, bổ sung nhiều tiêu chuẩn quan trọng đối với Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố, tạo cơ sở pháp lý cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ này.
1. Khung pháp lý mới về tổ chức và hoạt động của thôn, tổ dân phố
Nghị định số 185/2026/NĐ-CP có hiệu lực đã chính thức thay thế các quy định liên quan đến người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố theo Nghị định số 33/2023/NĐ-CP. Việc Chính phủ ban hành Nghị định mới đã thiết lập khung pháp lý mới về tổ chức và hoạt động của thôn, tổ dân phố trong bối cảnh thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp. Một trong những nội dung đáng chú ý của Nghị định này đó là việc quy định cụ thể, toàn diện hơn các tiêu chuẩn đối với Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố. So với các quy định trước đây, các tiêu chuẩn mới không chỉ đề cao phẩm chất chính trị, đạo đức và uy tín trong cộng đồng mà còn nhấn mạnh năng lực quản trị, kỹ năng số và khả năng tổ chức thực hiện nhiệm vụ. Điều này phản ánh xu hướng chuyên nghiệp hóa đội ngũ cán bộ bán chuyên trách ở cộng đồng dân cư, đáp ứng yêu cầu đổi mới quản trị địa phương trong giai đoạn hiện nay.
Theo quy định mới tại Nghị định số 185/2026/NĐ-CP về tiêu chuẩn của thôn, tổ dân phố thì quy mô số hộ gia đình có sự thay đổi so với trước: Riêng thành phố Hà Nội và Hồ Chí Minh: Thôn phải có từ 500 hộ gia đình trở lên, tổ dân phố phải có từ 700 hộ gia đình trở lên; Ở vùng đồng bằng sông Hồng (trong đó có thành phố Hải Phòng): Thôn phải có từ 400 hộ gia đình trở lên, tổ dân phố phải có từ 550 hộ gia đình trở lên… Khi quy mô thôn, tổ dân phố ngày càng lớn, yêu cầu quản trị ngày càng hiện đại, việc lựa chọn những người trực tiếp phục vụ Nhân dân ở cộng đồng có ý nghĩa quan trọng đối với quá trình sắp xếp. Chính bởi vậy, hiện nay HĐND cấp xã được trao quyền quyết định số lượng người hoạt động không chuyên trách hưởng phụ cấp từ ngân sách nhà nước trên địa bàn.
Số lượng người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố theo Nghị định số 185/2026/NĐ-CP quy định không quá 3 người, gồm: Bí thư Chi bộ, Trưởng thôn hoặc Tổ trưởng tổ dân phố và Trưởng ban Công tác Mặt trận. Tổ trưởng là người hoạt động không chuyên trách, có nhiệm kỳ 5 năm do người dân trực tiếp bầu; việc bố trí thêm người hỗ trợ do HĐND cấp tỉnh quyết định căn cứ điều kiện thực tế và khả năng ngân sách. Trong khi đó, nhiều thôn, tổ dân phố sau sắp xếp có quy mô từ hàng trăm đến hàng nghìn hộ dân, đòi hỏi phải chuyển từ tư duy bố trí đủ người sang lựa chọn đúng người.
2. Sự thay đổi trong tiêu chuẩn Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố
Quy định cụ thể về độ tuổi: Ngoài những tiêu chuẩn chung mang tính kế thừa các quy định trước đây, như: “Có phẩm chất đạo đức tốt, gương mẫu; có uy tín trong cộng đồng dân cư; được Nhân dân tín nhiệm; bản thân và gia đình gương mẫu về đạo đức, lối sống, chấp hành tốt chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước”; tại Điều 7 của Nghị định số 185/2026/NĐ-CP quy định cụ thể hơn về tiêu chuẩn của Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố: “Là công dân Việt Nam cư trú thường xuyên tại địa bàn xã, phường, đặc khu từ 21 tuổi trở lên, ưu tiên người trong độ tuổi lao động theo quy định; có đủ sức khỏe để hoàn thành nhiệm vụ và chức trách được giao”. So với các quy định trước đây chủ yếu nhấn mạnh yếu tố uy tín, sức khỏe và khả năng thực hiện nhiệm vụ, việc quy định cụ thể độ tuổi tối thiểu đã góp phần chuẩn hóa điều kiện nhân sự, bảo đảm người được bầu có đủ năng lực hành vi, kinh nghiệm xã hội và khả năng đáp ứng yêu cầu công tác ngày càng cao ở cộng đồng dân cư. Đồng thời, quy định này cũng thể hiện chủ trương trẻ hóa đội ngũ cán bộ ở cơ sở, tạo điều kiện để những cá nhân có trình độ, năng lực và tinh thần đổi mới tham gia công tác cộng đồng.
Yêu cầu về năng lực số và ứng dụng công nghệ thông tin: Trong các tiêu chuẩn mới, yêu cầu về khả năng ứng dụng công nghệ thông tin được xem là bước đột phá quan trọng của Nghị định số 185/2026/NĐ-CP; theo đó, Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố phải có khả năng ứng dụng công nghệ thông tin phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ; thực hiện công tác thống kê, tổng hợp, báo cáo và triển khai các nhiệm vụ được giao. Đây là sự thay đổi có tính chất nền tảng trong tư duy xây dựng đội ngũ người hoạt động ở cộng đồng dân cư. Nếu như trước đây tiêu chuẩn chủ yếu tập trung vào yếu tố uy tín xã hội thì hiện nay tiêu chuẩn này đã mở rộng sang yêu cầu về năng lực số và khả năng thích ứng với môi trường quản trị điện tử. Điều này hoàn toàn phù hợp trong điều kiện hiện hiện nay khi yêu cầu về chuyển đổi số quốc gia đang được triển khai mạnh mẽ và trở thành điều kiện tiên quyết để có thể giải quyết khối lượng công việc đồ sộ một cách kịp thời.
Sau sáp nhập, vị trí của người đứng đầu khu dân cư cũng cũng có sự thay đổi. Trưởng thôn hay tổ trưởng tổ dân phố hiện nay không chỉ là người nắm tình hình địa bàn mà còn phải biết sử dụng công nghệ thông tin, tiếp nhận và xử lý công việc trên môi trường số; đồng thời, có khả năng điều hành và kết nối cộng đồng. Đây là những yêu cầu rất khác so với trước đây. Yêu cầu về năng lực số trở thành tất yếu và phù hợp với xu thế phát triển của xã hội hiện nay.
Như vậy, trong giai đoạn phát triển mới, Trưởng thôn/Tổ trưởng tổ dân phố cần đáp ứng cả 2 điều kiện về độ tuổi và yêu cầu năng lực số, khả năng ứng dụng công nghệ thông tin. Quy định mới này là cần thiết nhưng việc triển khai thực hiện trong thực tiễn sẽ có những thách thức nhất định, bởi lẽ hiện nay không khó để tìm người có uy tín trong cộng đồng dân cư, cũng không khó tìm người sử dụng thành thạo công nghệ thông tin, nhưng để tìm được người hội tụ đồng thời cả 2 yếu tố nêu trên thì không dễ dàng. Người lớn tuổi thường có kinh nghiệm, có tiếng nói trong cộng đồng, được Nhân dân tín nhiệm thì lại gặp khó khăn khi tiếp cận công nghệ. Ngược lại, lớp người trẻ tuổi hơn có trình độ, nhanh nhạy với chuyển đổi số thì lại chưa có nhiều trải nghiệm trong công tác vận động quần chúng. Do đó, để đáp ứng tiêu chí cả về độ tuổi, cả về uy tín, kỹ năng quản trị và khả năng ứng dụng công nghệ là điều không dễ, nhất là đối với địa phương miền núi, vùng sâu, vùng xa.
Nâng cao yêu cầu về năng lực quản trị và tổ chức thực tiễn: Nghị định số 185/2026/NĐ-CP không chỉ dừng lại ở việc yêu cầu người được bầu có uy tín trong cộng đồng mà còn đặt ra các tiêu chuẩn về kiến thức, năng lực, kinh nghiệm và phương pháp tổ chức thực hiện nhiệm vụ. Theo đó, Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố phải có khả năng vận động Nhân dân, tổ chức các hoạt động cộng đồng, phối hợp triển khai hiệu quả các nhiệm vụ do cấp ủy, chính quyền cấp xã giao; đồng thời khuyến khích lựa chọn những người có trình độ chuyên môn phù hợp. Sự thay đổi này cho thấy quá trình chuyển dịch từ mô hình người “đại diện” cộng đồng sang mô hình người “quản trị” cộng đồng. Trong bối cảnh khối lượng công việc ở cơ sở ngày càng gia tăng, yêu cầu về năng lực điều hành, kỹ năng lãnh đạo và khả năng tổ chức thực hiện trở thành yếu tố quyết định hiệu quả hoạt động của thôn, tổ dân phố.
Hoàn thiện các điều kiện bảo đảm về tư cách pháp lý và tiêu chuẩn cư trú phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp: Nghị định số 185/2026/NĐ-CP cũng quy định chặt chẽ hơn về các điều kiện liên quan đến tư cách pháp lý của người được bầu. Theo đó, người ứng cử hoặc được giới thiệu bầu làm Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố không được trong thời gian đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, đang chấp hành bản án, quyết định của Tòa án hoặc đang trong thời gian bị xử lý kỷ luật theo quy định của pháp luật. Những quy định này góp phần nâng cao tính liêm chính, trách nhiệm và tính gương mẫu của người đứng đầu cộng đồng dân cư; đồng thời bảo đảm sự tin tưởng của Nhân dân đối với đội ngũ cán bộ ở cơ sở.
Nghị định mới quy định người được bầu phải cư trú thường xuyên trên địa bàn xã, phường hoặc đặc khu. Quy định này phản ánh sự thích ứng của hệ thống pháp luật với quá trình sắp xếp đơn vị hành chính và vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Việc xác định rõ yêu cầu về cư trú không chỉ bảo đảm sự gắn bó của người được bầu với cộng đồng dân cư mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện nhiệm vụ quản lý, điều hành ở cơ sở.
3. Sự thay đổi trong tiêu chuẩn của Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố phù hợp với yêu cầu quản trị địa phương giai đoạn hiện nay
Từ sự phân tích nêu trên có thể nhận thấy các quy định mới tại Nghị định số 185/2026/NĐ-CP đã xác định hệ thống tiêu chuẩn tương đối toàn diện đối với vị trí Trưởng thôn/ Tổ trưởng tổ dân phố, bao gồm các nhóm tiêu chí cơ bản về: Điều kiện nhân thân (1); phẩm chất đạo đức và uy tín (2); năng lực, trình độ chuyên môn (3); kỹ năng số (4) và điều kiện pháp lý (5). Điều này cho thấy sự thay đổi đáng kể trong quan điểm xây dựng đội ngũ người hoạt động ở cộng đồng dân cư. Nếu như trước đây tiêu chuẩn chủ yếu mang tính “định tính”, dựa nhiều vào sự tín nhiệm của người dân, thì hiện nay đã được “định lượng” tương đối cụ thể theo hướng có thể đánh giá, kiểm chứng thực tế. Đây là cơ sở quan trọng để nâng cao chất lượng công tác lựa chọn, bầu cử Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố; đồng thời góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở đáp ứng yêu cầu quản trị hiện đại, chuyển đổi số và phát triển bền vững phù hợp với yêu cầu mới hiện nay.
Những quy định mới về tiêu chuẩn Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố trong Nghị định số 185/2026/NĐ-CP không đơn thuần là sự điều chỉnh về mặt kỹ thuật lập pháp mà phản ánh tư duy đổi mới trong quản trị địa phương. Từ chỗ coi trọng chủ yếu yếu tố uy tín xã hội, pháp luật hiện hành đã hướng tới xây dựng đội ngũ những người đứng đầu cộng đồng dân cư có đủ phẩm chất, năng lực quản trị, kỹ năng số và khả năng tổ chức thực tiễn. Đây là bước chuyển quan trọng nhằm đáp ứng yêu cầu vận hành hiệu quả mô hình chính quyền địa phương hai cấp, góp phần nâng cao chất lượng quản trị ở cơ sở, phát huy dân chủ và xây dựng nền hành chính hiện đại, phục vụ Nhân dân trong giai đoạn phát triển mới của đất nước./.
Phạm Liên - Trường Chính trị Tô Hiệu