Cuộc thi trực tuyên trên cổng pháp luật quốc gia tìm hiểu hiến pháp và pháp luật
Thời gian: 22/10/2026 09:11

Quyền lợi lao động nữ được hưởng trong các doanh nghiệp

Lao động nữ chiếm tỷ lệ lớn trong lực lượng lao động tại các doanh nghiệp, nhất là trong các ngành dệt may, da giày, điện tử, chế biến. Bên cạnh nghĩa vụ lao động như mọi người lao động khác, lao động nữ còn gắn với chức năng sinh sản. Vì vậy, Bộ luật Lao động năm 2019 và các văn bản hướng dẫn dành một chương riêng quy định những quyền lợi đặc thù đối với lao động nữ.

1. Được bảo đảm bình đẳng, không phân biệt đối xử với lao động nam

Một trong những nguyên tắc nền tảng của pháp luật lao động là bảo đảm bình đẳng giới tại nơi làm việc. Khoản 1 Điều 136 Bộ luật Lao động năm 2019 quy định người sử dụng lao động có trách nhiệm bảo đảm thực hiện bình đẳng giới và các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong tuyển dụng, bố trí, sắp xếp việc làm, đào tạo, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, tiền lương và các chế độ khác. Khoản 1 Điều 78 Nghị định số 145/2020/NĐ-CP ngày 14/12/2020 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về điều kiện lao động và quan hệ lao động nêu rõ, người sử dụng lao động có trách nhiệm thực hiện quyền bình đẳng của lao động nữ, lao động nam. Đồng thời, thực hiện các biện pháp bảo đảm bình đẳng giới trong tuyển dụng, sử dụng, đào tạo, tiền lương, khen thưởng, thăng tiến, trả công lao động, các chế độ về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, điều kiện lao động, an toàn lao động, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, ốm đau, thai sản, các chế độ phúc lợi khác về vật chất và tinh thần.

2. Được bảo vệ khi làm nghề, không phải làm một số việc nhất định

Đây là những nghề, công việc hoặc điều kiện làm việc có thể ảnh hưởng xấu tới sức khỏe và thiên chức làm mẹ của lao động nữ. Danh mục các nghề, công việc này được ban hành kèm theo Thông tư số 10/2020/TT-BLĐTBXH, trong đó có: trực tiếp nấu chảy và rót kim loại nóng chảy ở các lò; cán kim loại nóng (trừ kim loại màu); trực tiếp luyện quặng kim loại màu (đồng, chì, thiếc, thủy ngân, kẽm, bạc); khoan thăm dò giếng dầu và khí; xiếc (mạo hiểm, uốn dẻo, xiếc thú, đế trụ), múa rối nước; trực tiếp kiểm kê, bảo quản, tu bổ, phục chế tài liệu, sách, báo, phim, ảnh trong kho lưu trữ, phòng kỹ thuật bảo quản của thư viện… Theo Điều 142 Bộ luật Lao động năm 2019, khi sử dụng người lao động làm các nghề, công việc thuộc danh mục này, người sử dụng lao động phải cung cấp đầy đủ thông tin về tính nguy hiểm, nguy cơ, yêu cầu của công việc để người lao động lựa chọn, đồng thời phải bảo đảm điều kiện an toàn, vệ sinh lao động. Bên cạnh đó, theo khoản 2 Điều 137 Bộ luật Lao động, lao động nữ làm các công việc này khi mang thai và có thông báo cho người sử dụng lao động thì được chuyển sang làm công việc nhẹ hơn, an toàn hơn hoặc giảm bớt 01 giờ làm việc hằng ngày mà không bị cắt giảm tiền lương và quyền, lợi ích cho đến hết thời gian nuôi con dưới 12 tháng tuổi.

Như vậy, Bộ luật Lao động năm 2019 không cấm tuyệt đối lao động nữ làm các công việc trên mà chuyển sang cơ chế bảo đảm quyền được biết thông tin và quyền lựa chọn của người lao động. Cách tiếp cận này vừa tôn trọng quyền tự quyết về việc làm của lao động nữ, vừa đặt trách nhiệm bảo vệ sức khỏe sinh sản lên người sử dụng lao động.

3. Được nghỉ 30 phút/ngày trong thời gian hành kinh

Theo quy định tại khoản 3 Điều 80 Nghị định số 145/2020/NĐ-CP, lao động nữ trong thời gian hành kinh có quyền được nghỉ mỗi ngày 30 phút tính vào thời giờ làm việc và vẫn được hưởng đủ tiền lương theo hợp đồng lao động. Số ngày có thời gian nghỉ trong thời gian hành kinh do hai bên thỏa thuận phù hợp với điều kiện thực tế tại nơi làm việc và nhu cầu của lao động nữ nhưng tối thiểu là 03 ngày làm việc trong một tháng; thời điểm nghỉ cụ thể của từng tháng do người lao động thông báo với người sử dụng lao động.

Ngoài ra, lao động nữ trong thời gian nuôi con dưới 12 tháng tuổi có quyền được nghỉ mỗi ngày 60 phút trong thời gian làm việc để cho con bú, vắt, trữ sữa, nghỉ ngơi. Thời gian nghỉ vẫn được hưởng đủ tiền lương theo hợp đồng lao động. Trường hợp lao động nữ đã có thông báo mà vẫn không được nghỉ theo quy định thì doanh nghiệp bị phạt tiền từ 10 - 20 triệu đồng theo khoản 2 Điều 28 Nghị định 145/2020/NĐ-CP.

4. Không bị sa thải khi đang mang thai

Người sử dụng lao động không được sa thải hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với người lao động vì lý do kết hôn, mang thai, nghỉ thai sản, nuôi con dưới 12 tháng tuổi. Bên cạnh việc bảo đảm việc làm, doanh nghiệp phải tôn trọng quyền của lao động nữ mang thai. Theo Điều 138 Bộ luật Lao động, lao động nữ mang thai nếu có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền về việc tiếp tục làm việc sẽ ảnh hưởng xấu tới thai nhi thì có quyền đơn phương chấm dứt hoặc tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động. Quy định này giúp lao động nữ yên tâm mang thai, sinh con mà không lo mất việc làm, đồng thời trao cho họ quyền chủ động lựa chọn tạm nghỉ hoặc chấm dứt hợp đồng khi sức khỏe thai nhi bị đe dọa.

5. Không phải làm đêm, làm thêm, đi công tác xa khi mang thai

Theo khoản 1 Điều 137 Bộ luật Lao động năm 2019, người sử dụng lao động không được sử dụng người lao động làm việc ban đêm, làm thêm giờ và đi công tác xa khi mang thai từ tháng thứ 07, hoặc từ tháng thứ 06 nếu làm việc ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo. Đối với người lao động đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi, người sử dụng lao động không được sử dụng làm việc ban đêm, làm thêm giờ và đi công tác xa, trừ trường hợp được người lao động đồng ý. Tuy nhiên, nếu người lao động đồng ý thì người sử dụng lao động vẫn được được sử dụng người lao nữ mang thai làm đêm, làm thêm giờ, đi công tác xa.

Có thể thấy, pháp luật lao động không chỉ bảo đảm lao động nữ được đối xử bình đẳng với lao động nam mà còn có những quy định riêng phù hợp với đặc điểm giới tính, chức năng sinh sản và thiên chức làm mẹ. Các quy định về bình đẳng giới, quyền được biết thông tin khi làm công việc có ảnh hưởng xấu tới sức khỏe sinh sản, thời gian nghỉ trong khi nuôi con nhỏ, bảo đảm việc làm khi mang thai… cho thấy sự quan tâm của Nhà nước đối với lao động nữ. Để các quyền trên đối với lao động nữ đi vào thực tế, doanh nghiệp cần nghiêm túc thực hiện, người lao động cần chủ động tìm hiểu quy định pháp luật, mạnh dạn thông báo nhu cầu và phản ánh tới tổ chức công đoàn, cơ quan quản lý lao động khi quyền lợi bị xâm phạm. Bảo đảm tốt quyền lợi của lao động nữ là góp phần xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và phát triển nguồn nhân lực bền vững cho doanh nghiệp.

 

TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ VỀ PHỔ BIẾN GIÁO DỤC PHÁP LUẬT

Cơ quan chủ quản: UBND thành phố Hải Phòng

Cơ quan quản lý: Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng

Trưởng Ban biên tập: Ngô Quang Giáp, Ủy viên Thành ủy, Giám đốc Sở Tư pháp

Thống kê truy cập: 0

Liên hệ

 Địa chỉ: Tòa nhà E, Trung tâm Chính trị - Hành chính, Khu đô thị Bắc sông Cấm, phường Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng

 Điện thoại: 0225.3846314

 Fax: 0225.3640091

 Email: sotp@haiphong.gov.vn