Hiện nay, thế giới đang nhắc nhiều đến cuộc cách mạng công nghiệp 4.0. Đây là kết quả của “cơn bão” công nghệ số. Cuộc cách mạng này đã mở ra một “bước ngoặt” mới cả về lối sống, cách làm việc và các mối quan hệ giao tiếp hằng ngày. Một số đặc trưng của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đó là trí tuệ nhân tạo (AI), điện toán đám mây (Cloud), dữ liệu lớn (Big Data), chuỗi khối (Blockchain)…; trong đó, ví dụ điển hình của chuỗi khối là Bitcoin - đồng tiền kỹ thuật số được ứng dụng rất phổ biến. Sự phát triển nhanh chóng của tiền điện tử đã thúc đẩy nhiều quốc gia trên thế giới xây dựng và hoàn thiện khung pháp lý để quản lý và phát triển lĩnh vực này.
Những vấn đề mới đặt ra về quản lý tài sản số, tiền điện tử ở nước ta
Năm 2024, Việt Nam xếp thứ 5 thế giới về mức độ quan tâm đến tài sản số, đứng thứ 3 toàn cầu về sử dụng các nền tảng giao dịch quốc tế. Theo ước tính, hiện có khoảng 17 triệu người Việt Nam sở hữu tài sản số với tổng giá trị thị trường vượt 100 tỉ USD. Giao dịch tài sản số không chính thức đang tạo ra một nền kinh tế “ngầm” khổng lồ nhưng Việt Nam lại chưa có khung pháp lý chính thức đối với tài sản số cũng như tiền điện tử. Chính điều này tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây rủi ro. Theo khảo sát của Hiệp hội An ninh mạng quốc gia, năm 2024, cứ 220 người dùng thì có 1 người là nạn nhân của lừa đảo trực tuyến (chiếm tỉ lệ 0,45%). Tổng thiệt hại do lừa đảo trực tuyến gây ra trong năm 2024 ước tính lên tới 18.900 tỉ đồng.
Tiền điện tử (tiếng Anh gọi là “electric money” hay “e-money”) được xem là một dạng của tài sản số và được định nghĩa chính thức trong văn bản của các tổ chức tài chính - tiền tệ và nhiều quốc gia trên thế giới. Ở góc độ chung nhất, có thể hiểu tiền điện tử là “một giải pháp thay thế kỹ thuật số cho tiền mặt. Tiền điện tử cho phép người dùng thực hiện thanh toán không dùng tiền mặt bằng tiền được lưu trữ trên thẻ, điện thoại hoặc qua Internet”.
Tại Việt Nam, khái niệm về “tiền điện tử” lần đầu tiên được đề cập tại Nghị định số 52/2024/NĐ-CP ngày 15/5/2024 của Chính phủ quy định về thanh toán không dùng tiền mặt (sau đây gọi tắt là Nghị định số 52), theo đó: “Tiền điện tử là giá trị tiền Việt Nam đồng lưu trữ trên các phương tiện điện tử được cung ứng trên cơ sở đối ứng với số tiền được khách hàng trả trước cho ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán cung ứng dịch vụ ví điện tử”.
Với cách định nghĩa nêu trên trong Nghị định số 52, có thể thấy, Việt Nam cũng đồng nhất quan điểm về một số đặc tính cơ bản của tiền điện tử, đó là: được lưu trữ trên các phương tiện điện tử và được chấp nhận bởi các tổ chức khác mà không phải tổ chức phát hành tiền điện tử. Tuy nhiên, theo Điều 3 của Nghị định số 52, tiền điện tử không được coi là có giá trị như tiền mặt, không thay thế cho tiền mặt và chưa được công nhận là một phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt. Hiện nay, Việt Nam mới chỉ công nhận các phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt gồm séc, lệnh chi, ủy nhiệm chi, nhờ thu, ủy nhiệm thu, thẻ ngân hàng (bao gồm: thẻ ghi nợ, thẻ tín dụng, thẻ trả trước), ví điện tử và các phương tiện thanh toán khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.
Có thể thấy, việc ban hành Nghị định số 52 cùng với những khái niệm về “tiền điện tử” đã đặt nền móng ban đầu cho việc công nhận các sản phẩm số, công nghệ về tài chính tại Việt Nam, nhưng đến nay nước ta vẫn chưa có khung pháp lý chính thức về tài sản số, tiền điện tử. Việc thiếu các quy định xác định bản chất pháp lý của tiền điện tử và các quy định điều chỉnh chi tiết về việc tạo lập, giao dịch, giám sát, xử lý các giao dịch liên quan đến tài sản số nói chung và tiền điện tử nói riêng khiến cho Nhà nước thất thu thuế; chúng ta không những bị tụt hậu so với xu thế chung của nhiều nước trên thế giới, mà còn gặp khó khăn trong việc quản lý, giám sát, đảm bảo an toàn của thị trường tài chính, ngân hàng, thuế, phòng chống rửa tiền. Bởi vậy, việc sớm ban hành một hành lang pháp lý để có sự quản lý nhà nước đầy đủ trong lĩnh vực này là vô cùng cần thiết.
Cần sớm hoàn thiện hành lang pháp lý về tài sản số và tiền điện tử
Tại Việt Nam, ngày 21/8/2017, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định số 1255/QĐ-TTg phê duyệt Đề án Hoàn thiện khung pháp lý để quản lý, xử lý đối với các loại tài sản ảo, tiền điện tử, tiền ảo.
Tháng 2/2025, trong buổi làm việc với Ban Chính sách, chiến lược Trung ương, Tổng Bí thư Tô Lâm chỉ rõ: Cần sớm quản lý đồng tiền kỹ thuật số dưới dạng một loại tài sản ảo để tránh các tác động tiêu cực đến nền kinh tế và các vấn đề xã hội, đồng thời giúp đóng góp giá trị cho kinh tế đất nước. Quốc hội và các cơ quan của Chính phủ cần sớm thể chế hóa và cụ thể hóa để quản lý lĩnh vực này.
Đến thời điểm hiện nay, khung pháp lý liên quan đến tài sản số, tiền điện tử đang được khẩn trương hoàn thiện. Trong dự thảo Luật Công nghiệp công nghệ số đang được Quốc hội thảo luận có đưa ra cách giải thích về tài sản số “là sản phẩm công nghệ số được tạo ra, phát hành, lưu trữ, chuyển giao và xác thực quyền sở hữu bằng công nghệ chuỗi khối, mà con người có quyền sở hữu theo quy định của pháp luật về dân sự và pháp luật có liên quan”. Để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về tiền điện tử nói riêng và tài sản số nói chung, Việt Nam có thể tham khảo, vận dụng kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới, trong đó có một số nội dung trọng tâm cần quan tâm như:
Một là, để có cở sở xây dựng và hoàn thiện các quy định chi tiết về tài sản số, tiền điện tử và các giao dịch liên quan, trước hết cần xác định tiền điện tử, tiền kỹ thuật số là một loại tài sản và bổ sung các quy định về tài sản số trong Bộ luật Dân sự (sửa đổi) cũng như các văn bản luật chuyên ngành khác. Trước sự “bùng nổ” về công nghệ như hiện nay, việc liệt kê cụ thể các loại tài sản số khó có thể bao quát hết được các loại tài sản được hình thành và biến đổi không ngừng trong tương lai. Vì vậy, cần “thiết kế” một khái niệm khái quát nhất liên quan đến tài sản số dựa trên đặc tính của loại tài sản này.
Hai là, Việt Nam cần xây dựng các quy định liên quan đến việc phòng, chống rửa tiền và tài trợ khủng bố đối với nhà cung cấp dịch vụ tài sản ảo; xây dựng hệ thống giám sát các giao dịch đáng ngờ, đồng thời, hợp tác với các tổ chức quốc tế để ngăn chặn các hoạt động rửa tiền xuyên biên giới.
Ba là, để bảo vệ người tiêu dùng, cần xây dựng các quy định về bảo mật an toàn như: Quy định các yêu cầu kỹ thuật về an toàn bảo mật đối với trang thiết bị phục vụ phát hành, lưu trữ tài sản số; quy định về quyền sao kê lịch sử thanh toán; quy trình giải quyết tranh chấp, cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp; chế tài xử lý nghiêm minh đối với các hành vi vi phạm như tổ chức thực hiện chuyển tiền, thanh toán tiền kỹ thuật số cho những hoạt động bất hợp pháp…
Việc khẩn trương xây dựng, ban hành, hoàn thiện khung pháp lý về tài sản số cũng như tiền điện tử trong giai đoạn hiện nay chính là sự bảo đảm của Nhà nước về một môi trường pháp lý lành mạnh, qua đó vừa phát huy được những mặt tích cực, vừa ngăn ngừa những hệ lụy có thể phát sinh trong lĩnh vực này. Điều này góp phần quan trọng đưa nước ta vững bước tiến vào “kỷ nguyên mới” của dân tộc Việt Nam.
Phạm Thị Liên - Trường Chính trị Tô Hiệu Hải Phòng