1. Tại sao phải sửa đổi Luật Tiếp cận thông tin năm 2016?
Nhằm ghi nhận một trong những quyền cơ bản của con người và công dân, Điều 25 Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) quy định: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”. Thể chế hóa nội dung này, năm 2016, Quốc hội ban hành Luật Tiếp cận thông tin. Việc ban hành Luật này được đánh giá là bước quan trọng trong quá trình hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Lần đầu tiên, Nhà nước ghi nhận một cách toàn diện quyền tiếp cận thông tin của công dân và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong bảo đảm thực hiện quyền này.
Tuy nhiên, sau gần 10 năm triển khai thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã bộc lộ một số tồn tại, hạn chế, như: Một số quy định đối với việc xác định thông tin không được tiếp cận gặp vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện; trình tự, thủ tục cung cấp thông tin theo yêu cầu còn phức tạp, chưa đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính, đặc biệt trong điều kiện đẩy mạnh xây dựng các cơ sở dữ liệu, liên thông dữ liệu, thực hiện chuyển đổi số… Mặt khác, thực tiễn hiện nay cũng đặt ra những yêu cầu mới gắn với quá trình chuyển đổi số quốc gia, xây dựng Chính phủ số, phát triển xã hội số và yêu cầu ngày càng cao về tính công khai, minh bạch trong quản trị nhà nước.
Nhằm tiếp tục thể chế hóa các chủ trương, đường lối của Đảng về phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của Nhân dân, đặc biệt là phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”, đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh cải cách hành chính, ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, ngày 23/4/2026, tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội Khóa XVI thông qua Luật Tiếp cận thông tin, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/9/2026 (sau đây gọi là Luật Tiếp cận thông tin năm 2026).
2. Những đổi mới của Luật Tiếp cận thông tin năm 2026
Luật Tiếp cận thông tin năm 2026 gồm 4 chương, 31 điều (giảm 1 chương và 6 điều so với Luật Tiếp cận thông tin năm 2016) với mục tiêu tạo một hành lang pháp lý an toàn và phù hợp với yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới:
Đơn vị sự nghiệp công lập cũng có trách nhiệm cung cấp thông tin: Điểm mới nổi bật của Luật Tiếp cận thông tin năm 2026 là mở rộng phạm vi chủ thể có trách nhiệm cung cấp thông tin. Cùng với cơ quan nhà nước, Luật quy định các đơn vị sự nghiệp công lập có nhiệm vụ cung ứng dịch vụ sự nghiệp công cơ bản, thiết yếu cũng có trách nhiệm cung cấp thông tin. Quy định này phản ánh xu hướng đổi mới quản trị công hiện nay khi nhiều dịch vụ công không chỉ do cơ quan hành chính nhà nước trực tiếp thực hiện mà còn được chuyển giao cho các đơn vị sự nghiệp công lập hoặc các tổ chức được Nhà nước giao nhiệm vụ. Việc mở rộng chủ thể cung cấp thông tin góp phần nâng cao tính minh bạch trong hoạt động cung ứng dịch vụ công, đồng thời bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của người dân trong các lĩnh vực thiết yếu như y tế, giáo dục, an sinh xã hội và dịch vụ công ích.

Điều chỉnh phạm vi và trách nhiệm cung cấp thông tin của UBND cấp xã: Để phù hợp với việc tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp, Luật Tiếp cận thông tin năm 2026 điều chỉnh quy định về phạm vi và trách nhiệm cung cấp thông tin của chính quyền địa phương theo hướng phù hợp với thực tiễn và mô hình tổ chức mới sau sắp xếp. Cụ thể, Luật quy định UBND cấp xã có trách nhiệm cung cấp thông tin do mình tạo ra nhưng không phải cung cấp thông tin nhận được từ cơ quan khác (trừ một số trường hợp theo quy định). Đầu mối cung cấp thông tin cũng do UBND cấp tỉnh, cấp xã chủ động xác định, phù hợp với điều kiện thực tế.
Cung cấp thông tin trên môi trường điện tử: Một trong những điểm mới quan trọng của Luật Tiếp cận thông tin năm 2026 đó là nhấn mạnh yếu tố chuyển đổi số và cung cấp thông tin trên môi trường điện tử. Nếu như Luật năm 2016 quy định các hình thức công khai thông tin mang tính “truyền thống” như: Niêm yết công khai, đăng công báo hoặc đăng tải trên cổng thông tin điện tử thì Luật mới năm 2026 thể hiện rõ tư duy quản trị số thông qua việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, xây dựng cơ sở dữ liệu số và đa dạng hóa phương thức tiếp cận thông tin. Theo đó, thông tin không chỉ được đăng tải mang tính hình thức mà còn hướng tới khả năng khai thác trực tuyến, chia sẻ dữ liệu và kết nối đồng bộ giữa các cơ quan nhà nước. Đây là bước chuyển quan trọng từ việc cung cấp thông tin hành chính sang quản trị dữ liệu công, phù hợp với yêu cầu xây dựng chính quyền số và phát triển nền hành chính hiện đại.
Điều chỉnh về phạm vi thông tin phải được công khai và thông tin bị hạn chế tiếp cận: Về cơ bản, Luật mới năm 2026 vẫn quy định thông tin bao gồm 03 nhóm như Luật năm 2016, đó là: Thông tin công dân được tiếp cận (1); Thông tin công dân không được tiếp cận (2) và thông tin được tiếp cận có điều kiện (3). Tuy nhiên, Luật Tiếp cận thông tin năm 2026 có sự mở rộng đáng kể phạm vi thông tin phải được công khai. Theo đó, Điều 17 của Luật năm 2026 quy định cụ thể hơn các nhóm thông tin liên quan đến chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, đầu tư công, ngân sách nhà nước, dữ liệu thống kê, thủ tục hành chính, thông tin đất đai, môi trường và xây dựng... Việc mở rộng nội dung công khai không chỉ đáp ứng yêu cầu minh bạch hóa hoạt động quản lý nhà nước mà còn tạo điều kiện để người dân, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội tham gia giám sát, phản biện và đồng hành cùng Nhà nước trong quá trình phát triển. Đây là biểu hiện rõ nét của xu hướng quản trị hiện đại lấy người dân làm trung tâm và đề cao trách nhiệm giải trình của cơ quan công quyền.
Bên cạnh đó, Luật Tiếp cận thông tin năm 2026 quy định rõ hơn các trường hợp hạn chế tiếp cận thông tin. Ngoài các nhóm thông tin liên quan đến bí mật nhà nước, Luật còn bổ sung các trường hợp thông tin có thể gây ảnh hưởng đến quốc phòng, an ninh, đối ngoại, sức khỏe cộng đồng hoặc quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác. Đồng thời, Luật trao trách nhiệm cho người đứng đầu cơ quan, tổ chức trong việc xem xét, quyết định cung cấp hoặc từ chối cung cấp thông tin trong những trường hợp pháp luật chưa quy định cụ thể. Quy định này góp phần nâng cao tính chủ động trong quản lý thông tin song cũng đặt ra yêu cầu phải tăng cường kiểm soát quyền lực, bảo đảm tính khách quan và tránh lạm dụng việc hạn chế tiếp cận thông tin.
Bảo vệ dữ liệu cá nhân và quyền riêng tư trong môi trường số: Đây là một trong những điểm mới có ý nghĩa đặc biệt quan trọng của Luật năm 2026. Nếu Luật năm 2016 mới chỉ đề cập đến đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình thì Luật năm 2026 đã chính thức bổ sung quy định về việc bảo vệ dữ liệu cá nhân. Sự thay đổi này phản ánh xu thế tất yếu trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ và dữ liệu trở thành nguồn tài nguyên đặc biệt quan trọng. Như vậy, việc Luật năm 2026 quy định quyền tiếp cận thông tin cùng với yêu cầu bảo vệ dữ liệu cá nhân không chỉ góp phần bảo đảm quyền con người mà còn có ý nghĩa tăng cường an ninh thông tin, an toàn không gian mạng và niềm tin của người dân đối với hoạt động của cơ quan nhà nước.
Ngoài ra, Luật Tiếp cận thông tin năm 2026 còn bổ sung cơ chế yêu cầu cung cấp thông tin thông qua tổ chức đại diện hoặc tổ chức trung gian trong trường hợp nhiều người có cùng nhu cầu thông tin. Quy định này góp phần giảm tải áp lực hành chính cho cơ quan nhà nước, tiết kiệm thời gian, chi phí xã hội và phù hợp với xu hướng quản trị hiện đại dựa trên kết nối và chia sẻ dữ liệu.
Quyền tiếp cận thông tin nhìn từ hướng tiếp cận về quyền con người: Nếu như Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 chưa đề cập cụ thể đến quyền tiếp cận thông tin cho các nhóm yếu thế trong xã hội thì Luật Tiếp cận thông tin năm 2026 nhấn mạnh nội dung này. Theo đó, thông qua các hình thức phù hợp với điều kiện thực tế, Nhà nước có trách nhiệm hỗ trợ và bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho các nhóm yếu thế trong xã hội như người khuyết tật, đồng bào dân tộc thiểu số, người sinh sống ở vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo…. Đây là bước tiến quan trọng trong việc tiếp cận quyền con người theo hướng toàn diện và bao trùm, bảo đảm mọi công dân đều có cơ hội bình đẳng trong việc tiếp cận và sử dụng thông tin.
Nhằm đưa Luật Tiếp cận thông tin năm 2026 chính thức đi vào cuộc sống từ ngày 01/09/2026 tới đây, ngày 21/5/2026, Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 918/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật. Các công việc trọng tâm của Kế hoạch này bao gồm: Phổ biến, quán triệt Luật; Rà soát và hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật; Chuẩn bị cơ sở hạ tầng và nền tảng thông tin, số hóa tài liệu; Tập huấn chuyên sâu cho đội ngũ cán bộ làm công tác cung cấp thông tin tại các cơ quan Trung ương, địa phương và kiểm tra, đôn đốc thực hiện.
Nếu như năm 2016, khi Luật Tiếp cận thông tin lần đầu được ban hành ở nước ta mới chủ yếu đặt nền móng pháp lý cho việc ghi nhận quyền tiếp cận thông tin của công dân thì sau 10 năm triển khai thực hiện trong đời sống xã hội, Luật Tiếp cận thông tin năm 2026 đã thể hiện bước phát triển mới trong tư duy quản trị quốc gia: Từ cách tiếp cận mang tính hành chính, thụ động, Luật mới chuyển mạnh sang tư duy minh bạch chủ động, dữ liệu mở và quản trị số. Sự thay đổi này phù hợp với yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới. Những điểm mới của Luật không chỉ nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin mà còn góp phần xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch, hiện đại và phục vụ Nhân dân. Qua đó, Luật Tiếp cận thông tin năm 2026 trở thành một công cụ pháp lý quan trọng trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phát huy dân chủ và thúc đẩy phát triển bền vững trong kỷ nguyên mới của đất nước.
Phạm Liên, Trường Chính trị Tô Hiệu