Trong hoạt động ngân hàng, niềm tin của người gửi tiền là nền tảng quan trọng góp phần bảo đảm sự ổn định của hệ thống tài chính. Chính vì vậy, Luật Bảo hiểm tiền gửi số 111/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/5/2026, đã bổ sung khuôn khổ pháp lý cho hoạt động bảo hiểm tiền gửi, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền, duy trì sự ổn định của hệ thống tổ chức tín dụng, bảo đảm hoạt động ngân hàng phát triển an toàn, lành mạnh.
Nghiêm cấm các hành vi vi phạm pháp luật về bảo hiểm tiền gửi
Một trong những nội dung đáng chú ý của Luật là quy định cụ thể các hành vi bị nghiêm cấm, thể hiện tại Điều 11 Luật Bảo hiểm tiền gửi. Theo đó, Luật nghiêm cấm tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi không nộp phí bảo hiểm tiền gửi; tổ chức bảo hiểm tiền gửi không trả hoặc trả không đầy đủ tiền bảo hiểm; gian lận, giả mạo hồ sơ, tài liệu, dữ liệu, giấy tờ về bảo hiểm tiền gửi; cản trở, gây khó khăn làm thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân có liên quan; lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm trái quy định của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi.
Các quy định này góp phần bảo đảm tính công khai, minh bạch, nâng cao trách nhiệm của các chủ thể tham gia hoạt động bảo hiểm tiền gửi, đồng thời tạo cơ sở pháp lý để phòng ngừa, phát hiện và xử lý hành vi vi phạm, bảo vệ quyền lợi chính đáng của người gửi tiền.
Người gửi tiền được bảo đảm những quyền lợi gì?
Điều 12 Luật Bảo hiểm tiền gửi quy định cụ thể quyền và nghĩa vụ của người được bảo hiểm tiền gửi. Theo đó, người được bảo hiểm tiền gửi có quyền được bảo hiểm số tiền gửi của mình tại tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi; được nhận tiền bảo hiểm đầy đủ và đúng thời hạn theo quy định của Luật. Người gửi tiền cũng có quyền yêu cầu tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi, tổ chức bảo hiểm tiền gửi cung cấp đầy đủ, chính xác thông tin về chế độ bảo hiểm tiền gửi; khiếu nại, tố cáo, khởi kiện cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến bảo hiểm tiền gửi khi cần thiết để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Bên cạnh các quyền nêu trên, người được bảo hiểm tiền gửi có nghĩa vụ cung cấp đầy đủ, trung thực thông tin về tiền gửi theo yêu cầu của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi, tổ chức bảo hiểm tiền gửi khi thực hiện thủ tục trả tiền bảo hiểm.
Như vậy, Luật không chỉ xác lập cơ chế bảo vệ người gửi tiền mà còn tạo điều kiện để người dân chủ động tiếp cận thông tin, thực hiện quyền của mình và phối hợp với cơ quan, tổ chức có thẩm quyền khi phát sinh thủ tục chi trả bảo hiểm.
Tổ chức tín dụng phải tham gia và công khai việc tham gia bảo hiểm tiền gửi
Để bảo đảm quyền lợi của người gửi tiền, Luật quy định việc tham gia bảo hiểm tiền gửi là bắt buộc đối với các tổ chức thuộc diện điều chỉnh. Cụ thể, Điều 6 Luật Bảo hiểm tiền gửi quy định tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được nhận tiền gửi của cá nhân phải tham gia bảo hiểm tiền gửi; ngân hàng chính sách không phải tham gia bảo hiểm tiền gửi. Theo khoản 2, khoản 3 Điều 13, tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi có nghĩa vụ công khai việc tham gia bảo hiểm tiền gửi, tính và nộp phí bảo hiểm tiền gửi đầy đủ, đúng thời hạn. Điều 16 quy định việc công khai được thực hiện tại tất cả các điểm giao dịch có nhận tiền gửi, trên trang thông tin điện tử của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi (nếu có), trên trang thông tin điện tử của tổ chức bảo hiểm tiền gửi và bằng các hình thức công khai khác theo hướng dẫn của tổ chức bảo hiểm tiền gửi.
Việc công khai này giúp người dân có thêm cơ sở nhận biết tổ chức nhận tiền gửi có tham gia bảo hiểm tiền gửi hay không, qua đó nâng cao tính minh bạch và trách nhiệm của các tổ chức tín dụng trong hoạt động nhận tiền gửi.
Những khoản tiền gửi nào được bảo hiểm?
Để xác định đúng quyền lợi được bảo vệ, người dân cần quan tâm đến phạm vi tiền gửi được bảo hiểm và những trường hợp không thuộc diện bảo hiểm.
Theo Điều 17 Luật Bảo hiểm tiền gửi, tiền gửi được bảo hiểm là tiền gửi bằng đồng Việt Nam của cá nhân gửi tại tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi, dưới hình thức tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, chứng chỉ tiền gửi và các hình thức tiền gửi khác theo quy định của pháp luật về các tổ chức tín dụng, trừ những loại tiền gửi không được bảo hiểm quy định tại Điều 18 của Luật.
Điều 18 Luật Bảo hiểm tiền gửi quy định các loại tiền gửi không được bảo hiểm, bao gồm: Tiền gửi tại tổ chức tín dụng của cá nhân sở hữu trên 5% vốn điều lệ của chính tổ chức tín dụng đó và tiền gửi của người có liên quan của cá nhân này theo quy định của pháp luật về các tổ chức tín dụng.
Tiền gửi tại tổ chức tín dụng của cá nhân là người quản lý, người điều hành, thành viên Ban kiểm soát của chính tổ chức tín dụng đó; tiền gửi tại chi nhánh ngân hàng nước ngoài của cá nhân là Tổng giám đốc (Giám đốc), Phó Tổng giám đốc (Phó Giám đốc) của chính chi nhánh ngân hàng nước ngoài đó.
Tiền gửi tiết kiệm bắt buộc tại tổ chức tài chính vi mô theo quy định của pháp luật.
Tiền mua các giấy tờ có giá vô danh do tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi phát hành.
Việc xác định rõ phạm vi tiền gửi được bảo hiểm giúp người dân hiểu đúng quyền lợi của mình, tránh nhầm lẫn giữa các khoản tiền gửi thuộc diện được bảo hiểm và những khoản không thuộc phạm vi bảo hiểm theo quy định của pháp luật.
Khi nào người gửi tiền được nhận tiền bảo hiểm?
Một trong những nội dung người dân quan tâm nhất là thời điểm phát sinh nghĩa vụ chi trả, số tiền được nhận và thời hạn thực hiện chi trả.
Theo Điều 21 Luật Bảo hiểm tiền gửi, nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm phát sinh kể từ một trong các thời điểm được Luật quy định, bao gồm: phương án phá sản tổ chức tín dụng được phê duyệt hoặc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có văn bản xác định chi nhánh ngân hàng nước ngoài mất khả năng chi trả tiền gửi cho người gửi tiền; Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có văn bản đình chỉ hoạt động nhận tiền gửi của tổ chức tín dụng được kiểm soát đặc biệt và tổ chức tín dụng đó có lỗ lũy kế lớn hơn 100% giá trị vốn điều lệ và các quỹ dự trữ theo báo cáo tài chính đã được kiểm toán gần nhất; hoặc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có văn bản thông báo cho tổ chức bảo hiểm tiền gửi về việc trả tiền bảo hiểm theo quy định tại khoản 2 Điều 36 của Luật.
Như vậy, nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm không tự động phát sinh trong mọi trường hợp tổ chức tín dụng gặp khó khăn tài chính mà phải đáp ứng các điều kiện, thời điểm cụ thể theo quy định của pháp luật.
Theo Điều 23, số tiền bảo hiểm được trả cho tất cả các khoản tiền gửi được bảo hiểm của một người tại một tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi bao gồm cả tiền gốc và tiền lãi, nhưng tối đa bằng hạn mức chi trả tiền bảo hiểm. Trường hợp người được bảo hiểm có khoản nợ tại tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi, số tiền gửi được bảo hiểm được xác định là số tiền còn lại sau khi trừ khoản nợ đó.
Chủ động phòng ngừa rủi ro, bảo vệ an toàn hệ thống ngân hàng
Theo khoản 9, khoản 10 và khoản 11 Điều 14 Luật Bảo hiểm tiền gửi, tổ chức bảo hiểm tiền gửi có trách nhiệm theo dõi, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về bảo hiểm tiền gửi của tổ chức tham gia; kiến nghị Ngân hàng Nhà nước Việt Nam xử lý vi phạm; thực hiện kiểm tra theo kế hoạch, nội dung được giao; tổng hợp, phân tích và xử lý thông tin nhằm phát hiện, kiến nghị xử lý kịp thời các vi phạm về an toàn hoạt động ngân hàng và rủi ro gây mất an toàn trong hệ thống tổ chức tín dụng.
Có thể khẳng định, Luật Bảo hiểm tiền gửi đã thiết lập những quy định quan trọng nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền, đồng thời tăng cường cơ chế phòng ngừa, xử lý rủi ro, góp phần bảo đảm hoạt động ngân hàng an toàn, lành mạnh.