An toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) là một trong những trụ cột quan trọng của chính sách bảo vệ quyền lợi người lao động, đồng thời là điều kiện tiên quyết để phát triển kinh tế - xã hội bền vững. Trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đang diễn ra mạnh mẽ; các loại máy móc, thiết bị phức tạp, tinh vi hơn, áp lực sản xuất ngày càng lớn - thì nguy cơ tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp cũng ngày càng gia tăng. Việc quan tâm đến vấn đề ATVSLĐ đã trở thành yêu cầu cấp thiết.

“Bức tranh” về an toàn, vệ sinh lao động
Hệ thống pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động từng bước hoàn thiện, đặc biệt sau khi Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015 có hiệu lực. Nhận thức của doanh nghiệp và người lao động không ngừng được nâng lên; nhiều cơ sở sản xuất đã đầu tư trang thiết bị bảo hộ, kiện toàn bộ phận an toàn lao động. Các chương trình tuyên truyền, huấn luyện ATVSLĐ được triển khai rộng rãi hơn; tai nạn lao động nghiêm trọng ở một số ngành nghề cao rủi ro có xu hướng giảm. Việc ứng dụng công nghệ, số hóa các quy trình kiểm soát nguy cơ rủi ro, giám sát thiết bị ngày càng phổ biến.
Việc triển khai thực hiện Đề án “Thúc đẩy xây dựng văn hóa an toàn lao động tại nơi làm việc giai đoạn 2025-2030” tạo nền tảng chuyển từ “ý thức” sang “văn hóa”, từ “tuân thủ” sang “tự giác” trong mỗi người lao động và doanh nghiệp.
Các hoạt động thông tin, tuyên truyền an toàn, vệ sinh lao động được đẩy mạnh, lan tỏa, đa dạng các hình thức tiếp cận. Khoảng hơn 4,5 triệu người được huấn luyện ATVSLĐ và hơn 5,3 triệu máy, thiết bị được kiểm định kỹ thuật an toàn lao động[1]. Trong năm 2025, khoảng 3 triệu lượt người lao động được khám sức khỏe định kỳ, tăng 70% so với cùng kỳ năm 2024.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, công tác bảo đảm ATVSLĐ vẫn còn tồn tại những hạn chế nhất định và tiềm ẩn nguy cơ gây rủi ro: Tình trạng tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp vẫn diễn biến phức tạp, đặc biệt tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa, các cơ sở sản xuất khu vực phi chính thức. Nhiều doanh nghiệp chưa xây dựng được quy trình nhận diện, đánh giá và kiểm soát rủi ro theo chuẩn quốc tế hoặc còn mang tính hình thức. Công tác thanh tra, kiểm tra chưa đáp ứng yêu cầu; nguồn lực thực hiện giám sát an toàn lao động còn mỏng. Ý thức của một bộ phận người lao động còn hạn chế; việc sử dụng phương tiện bảo hộ chưa được thực hiện nghiêm. Một số ngành nghề mới phát sinh từ nền kinh tế số (giao hàng công nghệ, kho bãi tự động, vận hành thiết bị thông minh…) chưa được hoàn thiện quy chuẩn an toàn.
Theo báo cáo của cơ quan chức năng: Năm 2025, cả nước ghi nhận xảy ra 7.004 vụ tai nạn lao động (giảm gần 1.300 vụ so với năm trước) với 7.156 người bị tai nạn, trong đó có 658 người tử vong; 1.779 người bị thương nặng, thiệt hại kinh tế ước khoảng 14.000 tỷ đồng[2]. Một số ngành tiềm ẩn nguy cơ cao như xây dựng, khai thác khoáng sản, điện lực, dệt may - da giày...
Hải Phòng là thành phố cảng lớn nhất miền Bắc và là một trong những trung tâm công nghiệp, hàng hải và dịch vụ cảng biển hàng đầu của cả nước. Với lực lượng lao động đông đảo, hàng chục khu công nghiệp tập trung và mật độ hoạt động cảng biển, vận tải, cơ khí, xây dựng cao, cùng với những lợi thế, Hải Phòng đang đứng trước những thách thức không nhỏ trong công tác đảm bảo ATVSLĐ.
Nguyên nhân dẫn đến tình trạng mất an toàn, vệ sinh lao động
Theo nghiên cứu của các cơ quan chức năng, một số nguyên nhân được chỉ ra dẫn đến tình trạng mất ATVSLĐ, đó là:
Do ý thức của người lao động: Do chủ quan, không ít người lao động không tuân thủ hoặc tuân thủ không nghiêm túc, không đầy đủ các yêu cầu kỹ thuật hoặc vi phạm các quy định về Nội quy trong quy trình sản xuất; thiếu kỹ năng xử lý tình huống nguy hiểm dẫn đến những hậu quả không mong muốn.
Do công nghệ chuyển đổi nhanh, đòi hỏi doanh nghiệp, người sử dụng lao động phải đầu tư vốn cho việc trang bị các thiết bị kỹ thuật cao, đảm bảo môi trường làm việc an toàn chuẩn hóa; tuy nhiên, điều này cũng gây không ít khó khăn cho các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp nhỏ hoặc doanh nghiệp vừa và nhỏ với quy mô sản xuất, doanh thu còn hạn chế.
Do chất lượng nguồn nhân lực được đào tạo chưa đồng đều, dẫn đến ý thức và kỹ năng thực hành an toàn lao động ở một bộ phận lao động còn hạn chế.
Mặt khác, trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt, (nhiệt độ cao, nắng nóng cực đoan, ô nhiễm không khí, môi trường) làm gia tăng nguy cơ mắc các bệnh nghề nghiệp, nhất là các công việc làm ngoài trời cộng với áp lực từ những ngành nghề tiềm ẩn nhiều rủi ro (như cơ khí - luyện kim, vận tải, dịch vụ cảng biển, xây dựng…) cũng có thể là nguyên nhân dẫn đến các vụ tai nạn lao động, đòi hỏi biện pháp kiểm soát và giám sát chặt chẽ hơn.
Một số vấn đề đặt ra trong giai đoạn hiện nay
Ngày nay, việc ứng dụng công nghệ đã len lỏi vào mọi ngóc ngách của đời sống xã hội và có tác động sâu sắc đến nhiều quy trình sản xuất. Sự phát triển của công nghệ tự động hóa, robot, AI đã làm xuất hiện các nguy cơ tai nạn lao động mới, như: rủi ro từ thiết bị tự hành, an toàn thông tin trong vận hành máy móc, áp lực công việc tăng khi phụ thuộc hệ thống số... Những chuẩn mực ATVSLĐ mang tính “truyền thống” trước đây chưa bao quát đầy đủ những thay đổi nhanh chóng trong giai đoạn hiện nay. Nhiều tiêu chuẩn ATVSLĐ hiện có chưa cập nhật kịp sự thay đổi của công nghệ; thiếu quy chuẩn cho các ngành nghề mới, từ đó đặt ra yêu cầu cho các doanh nghiệp cần trang bị kỹ thuật, máy móc, thiết bị công nghệ để áp dụng hệ thống quản lý an toàn theo chuẩn quốc tế... Một số vấn đề khác đặt ra trong giai đoạn hiện nay, như: Lực lượng lao động không chính thức (ví dụ: người giao hàng, lao động theo hợp đồng ngắn hạn, người làm việc linh hoạt theo nền tảng số…) tăng nhanh nhưng không được quản lý chặt chẽ, bảo hiểm tai nạn còn hạn chế khiến việc thống kê, đào tạo và bảo hiểm tai nạn khó khả thi.
Có thể nói, ATVSLĐ là một trong những nội dung cốt lõi của chính sách lao động - xã hội, gắn trực tiếp với sức khỏe, tính mạng của người lao động và sự phát triển bền vững của doanh nghiệp cũng như nền kinh tế. Trong bối cảnh đẩy mạnh công nghiệp hóa, chuyển đổi số, tự động hóa và sự mở rộng nhanh của các ngành công nghiệp, rủi ro mất an toàn lao động có xu hướng gia tăng và trở nên phức tạp hơn. Điều này đặt ra yêu cầu phải nhìn nhận, đánh giá và đề xuất các giải pháp phù hợp trong tình hình mới.
Một số giải pháp bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động
Trước những khó khăn, thách thức và nhiệm vụ đặt ra trong giai đoạn hiện nay, để đảm bảo ATVSLĐ cần tập trung thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp:
Thực hiện nghiêm Chỉ thị số 31-CT/TW ngày 19/3/2024 của Ban Bí thư về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác ATVSLĐ trong tình hình mới; tiếp tục thực hiện Luật An toàn, vệ sinh lao động và các văn bản hướng dẫn thi hành; đồng thời tiếp tục hoàn thiện chính sách và pháp luật: Rà soát, cập nhật quy chuẩn kỹ thuật an toàn đối với các ngành sản xuất, đặc biệt là các ngành nghề mới; khuyến khích doanh nghiệp áp dụng các tiêu chuẩn quản lý an toàn lao động theo phương thức tiên tiến, hiện đại... Bổ sung chính sách bảo hiểm tai nạn đối với lực lượng lao động nền tảng số, lao động phi chính thức. Tăng cường chế tài xử lý đối với các hành vi không đảm bảo an toàn lao động tại doanh nghiệp.
Các cơ quan quản lý nhà nước có cơ chế, chính sách phù hợp hỗ trợ doanh nghiệp áp dụng hệ thống quản lý an toàn tiên tiến trong doanh nghiệp. Đặc biệt là hỗ trợ tài chính, tư vấn kỹ thuật cho doanh nghiệp nhỏ. Tăng cường kiểm định định kỳ máy móc, thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn. Lực lượng chức năng tăng cường công tác thanh tra, giám sát theo kế hoạch và đột xuất, trong đó chú trọng các ngành nghề tiềm ẩn nhiều yếu tố rủi ro, xử lý nghiêm vi phạm (nếu có) để nâng cao tính răn đe và tuân thủ pháp luật.
Ứng dụng công nghệ số trong quản lý rủi ro: Xây dựng hệ thống cảnh báo, giám sát thiết bị, dữ liệu số về tai nạn lao động. Ứng dụng mô phỏng, thực tế ảo để tập huấn các tình huống có nguy cơ cao. Đẩy mạnh các chiến dịch tập huấn theo hình thức đa chiều (trực tiếp, trực tuyến, mô phỏng tình huống...
Chủ đề Tháng Công nhân năm 2026 được chọn là: “Công nhân Việt Nam: Đổi mới sáng tạo, nâng cao năng suất lao động”; trong đó tập trung vào việc đẩy mạnh chăm lo đời sống, bảo vệ quyền lợi người lao động gắn liền với Tháng hành động về ATVSLĐ và chuyển từ các hoạt đông mang tính phong trào sang kết quả thực chất. Cần chăm lo sức khỏe dài hạn cho người lao động thông qua việc xây dựng chương trình khám sức khỏe nghề nghiệp định kỳ bắt buộc, đặc biệt với các ngành nghề có yếu tố độc hại. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, cần trang bị đầy đủ các thiết bị an toàn cho lao động, nhất là đối với các ngành nghề đặc thù. Bố trí ca kíp làm việc linh hoạt trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt; giám sát môi trường lao động, đảm bảo các điều kiện an toàn về chất lượng không khí, tiếng ồn theo quy định… Đặc biệt, trong trường hợp xảy ra tai nạn lao động, cần đảm bảo tốt nhất quyền lợi bảo hiểm tai nạn và chế độ hỗ trợ cho nạn nhân.
Đẩy mạnh tuyên truyền, huấn luyện và nâng cao nhận thức cho người lao động. Khuyến khích người lao động tham gia xây dựng văn hóa an toàn và chủ động nhận diện, phản ánh các rủi ro trong quá trình lao động. Doanh nghiệp tổ chức các chương trình đào tạo thực hành, huấn luyện định kỳ tại cơ sở sản xuất. Xây dựng văn hóa an toàn lao động, trong đó người lao động có quyền từ chối công việc khi không bảo đảm yếu tố an toàn.
Bảo đảm ATVSLĐ không chỉ là bảo vệ tính mạng, sức khỏe của người lao động mà còn bảo vệ “sức khỏe” của doanh nghiệp, qua đó xây dựng nền tảng bền vững cho sự phát triển của nền kinh tế đất nước. Do đó, vấn đề ATVSLĐ trong giai đoạn hiện nay không chỉ còn là nhiệm vụ của riêng doanh nghiệp mà là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Thực hiện điều này đòi hỏi phải đổi mới tư duy, tăng cường năng lực quản trị an toàn, hoàn thiện thể chế và đặc biệt là xây dựng văn hóa an toàn trong mọi hoạt động sản xuất - kinh doanh.
Phạm Liên - Trường Chính trị Tô Hiệu
[1] Trích số liệu của Báo Nhân dân điện tử ngày 03/4/2026
[2] Trích số liệu của Báo Nhân dân điện tử ngày 03/4/2026.