“Chủ động thực thi; phát huy động lực; tăng trưởng bứt phá”
Thời gian: 07/05/2026 16:38

09 luật mới được thông qua tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI

1. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân, Luật Thuế giá trị gia tăng, Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp và Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt

Luật được thông qua sửa đổi, bổ sung một số điều của 04 Luật thuế liên quan cụ thể như sau:

- Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 7 Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025, theo đó quy định: Cá nhân cư trú có hoạt động sản xuất, kinh doanh có doanh thu năm từ mức quy định của Chính phủ trở xuống không phải nộp thuế thu nhập cá nhân. Căn cứ các chỉ số kinh tế vĩ mô, khả năng cân đối ngân sách, Chính phủ quy định mức doanh thu năm để phù hợp với bối cảnh kinh tế-xã hội trong từng thời kỳ.

- Sửa đổi, bổ sung khoản 25 Điều 5 Luật Thuế giá trị gia tăng 2024 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 90/2025/QH15 và Luật số 149/2025/QH15, cụ thể: Hàng hóa, dịch vụ của hộ, cá nhân sản xuất, kinh doanh có doanh thu năm từ mức quy định của Chính phủ trở xuống và căn cứ các chỉ số kinh tế vĩ mô, khả năng cân đối ngân sách, Chính phủ quy định mức doanh thu năm để phù hợp với bối cảnh kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ; tài sản của tổ chức, cá nhân không kinh doanh, không phải là người nộp thuế giá trị gia tăng bán ra; hàng dự trữ quốc gia do cơ quan dự trữ quốc gia bán ra; các khoản thu phí, lệ phí theo quy định của pháp luật về phí và lệ phí.

- Bổ sung khoản 14a vào sau khoản 14 Điều 4 của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp số 67/2025/QH15 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 116/2025/QH15, Luật số 127/2025/QH15, Luật số 133/2025/QH15, Luật số 141/2025/QH15 và Luật số 143/2025/QH15. Theo đó, Thu nhập của doanh nghiệp, tổ chức được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam có tổng doanh thu năm từ mức quy định của Chính phủ trở xuống được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp. Căn cứ các chỉ số kinh tế vĩ mô, khả năng cân đối ngân sách, Chính phủ quy định tổng mức doanh thu năm để phù hợp với bối cảnh kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ.".

Đồng thời, chính thức bỏ ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh là 500 triệu đồng/năm như ở các luật hiện hành, mà sẽ giao Chính phủ quyết định mức doanh thu cụ thể linh hoạt theo từng thời kỳ. Ngưỡng doanh thu miễn thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp nhỏ cũng được sửa đổi do Chính phủ quy định, nhằm giúp tạo sự công bằng giữa các mô hình kinh doanh, đồng thời khuyến khích hộ kinh doanh chuyển đổi lên doanh nghiệp.

- Sửa đổi, bổ sung quy định về xe có gắn động cơ dưới 24 chỗ chạy bằng pin tại điểm g mục 4 phần I của Biểu thuế tiêu thụ đặc biệt quy định tại khoản 1 Điều 8 của Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt số 66/2025/QH15.

Luật sửa đổi 04 luật thuế trên có hiệu lực từ ngày được thông qua, riêng các quy định về ngưỡng chịu thuế của các hộ, cá nhân kinh doanh, doanh nghiệp nhỏ sẽ có hiệu lực áp dụng từ ngày 01/01/2026.

2. Luật Cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài sửa đổi năm 2026 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026

Luật bổ sung một số lĩnh vực công tác của cơ quan đại điện như về nông nghiệp, vận động ghi danh di sản văn hóa, vấn đề chữ tiếng Việt. Bổ sung “doanh nghiệp” vào các đối tượng được bảo hộ lãnh sự; các quy định về thời hạn cơ quan, tổ chức cần thông báo cho cơ quan đại điện trong trường hợp khẩn cấp hoặc theo chỉ đạo của cấp có thẩm quyền.

Liên quan đến việc kiện toàn cơ cấu tổ chức và nhân sự của cơ quan đại điện, bổ sung các nguyên tắc điều chuyển biên chế giữa cơ quan đại điện được thực hiện căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ và địa bàn công tác; bổ sung tiêu chí đại sứ cần có năng lực tổ chức thực hiện chuyển đổi số;…Chỉnh lý cụm từ “chức vụ đặc thù” thành “chức vụ ngoại giao đặc thù”, bổ sung chức vụ “Đại biện”; bổ sung quy định kéo dài nhiệm kỳ đại sứ tối đa không quá 36 tháng.

3. Luật Tiếp cận thông tin năm 2026 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/9/2026

Luật được chỉnh lý theo hướng bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân, nhất là trong môi trường số. Luật tập trung hoàn thiện các quy định nhằm bảo đảm công dân được tiếp cận thông tin chính xác, đầy đủ, kịp thời, minh bạch và thuận lợi; đồng thời xác định rõ trách nhiệm của cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập trong việc tổ chức thực hiện quyền này. Chính phủ sẽ tiếp tục quy định chi tiết tại văn bản dưới luật về các biện pháp hỗ trợ phù hợp đối với nhóm yếu thế (người cao tuổi, trẻ em, người nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn...) nhằm bảo đảm tính bao trùm và công bằng trong tiếp cận thông tin.

4. Luật Thủ đô năm 2026 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/10/2026.

Luật Thủ đô năm 2026 giữ nguyên kết cấu gồm 9 chương, 36 điều, trong đó có 26 điều được chỉnh lý. Luật giao cho chính quyền thành phố Hà Nội 199 thẩm quyền đặc thù, vượt trội, gồm 127 thẩm quyền của Hội đồng nhân dân, 56 thẩm quyền của Ủy ban nhân dân và 16 thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân. Đây được đánh giá là cơ sở pháp lý quan trọng để Thủ đô phát huy mạnh mẽ hơn tiềm năng, vị thế, tính chủ động, sáng tạo trong phát triển, theo phương châm “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”.

Đối với cơ chế, chính sách đặc thù phát triển Thủ đô, Luật được chỉnh lý theo hướng bảo đảm chặt chẽ, khả thi và sát thực tiễn hơn. Nhiều nội dung quan trọng được làm rõ, như thẩm quyền của chính quyền thành phố trong quy hoạch, quản lý không gian phát triển; yêu cầu phối hợp với các bộ, ngành liên quan để kiểm soát chặt chẽ, nhất là đối với không gian tầm cao.

5. Luật Thi đua, khen thưởng sửa đổi năm 2026 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/10/2026

Luật quy định về nguyên tắc khen thưởng, không khen thưởng nhiều lần, nhiều hình thức cho một thành tích đạt được. Quy định riêng 02 loại hình khen thưởng “khen thưởng phong trào thi đua theo chuyên đề” và “khen thưởng chuyên đề” để làm rõ loại hình khen thưởng về thành tích khen thưởng.

Về Chiến sĩ danh hiệu thi đua, Chính phủ tiếp thu, bổ sung nội dung giao Chính phủ về tỉ lệ xét danh hiệu Chiến sĩ thi đua cơ sở. Đối với cá nhân đề nghị xét tặng danh hiệu không theo tiêu chuẩn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

Về khen thưởng của Đảng, về sửa đổi tiêu chuẩn tổ chức đảng, đoàn thể trong sạch, vững mạnh, Chính phủ tiếp thu ý kiến của các cơ quan thẩm tra, chỉnh lý dự thảo luật theo hướng giao Chính phủ quy định việc xác định tương đương hình thức khen thưởng của Đảng đối với tổ chức đảng, đảng viên với danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng tương ứng với quy định tại Luật Thi đua, khen thưởng.

6. Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2027

Luật nghiên cứu, tiếp thu và hoàn thiện kỹ lưỡng, trong đó có các nội dung liên quan đến hoạt động tín ngưỡng trên không gian mạng, hoạt động tín ngưỡng ngoài cơ sở tín ngưỡng, cũng như yêu cầu đẩy mạnh phân cấp, phân quyền trong quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo. Bảo đảm vừa tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân, vừa nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực này.

Một nội dung đáng chú ý trong lần sửa đổi này là việc tiếp tục đẩy mạnh phân cấp thủ tục hành chính, bảo đảm cấp bộ chỉ thực hiện không quá 30% tổng số thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo.

7. Luật Công chứng sửa đổi năm 2026 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2027

Luật Công chứng sửa đổi năm 2026 đã được chỉnh lý theo hướng không quy định danh mục cụ thể các giao dịch phải công chứng mà xác lập tiêu chí chung để xác định các giao dịch thuộc diện bắt buộc công chứng. Cách tiếp cận này vừa góp phần thu hẹp phạm vi các giao dịch phải công chứng (giảm 06 loại giao dịch bắt buộc phải công chứng đang được quy định trong các nghị định của Chính phủ), vừa khắc phục nguy cơ chồng chéo, xung đột với các luật chuyên ngành, qua đó tạo thuận lợi, giảm chi phí tuân thủ pháp luật cho tổ chức, cá nhân và nâng cao tính minh bạch, ổn định của hệ thống pháp luật.

8. Luật Trợ giúp pháp lý sửa đổi năm 2026 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2027

Luật được sửa đổi lấy người được trợ giúp pháp lý làm trung tâm, bảo đảm tốt hơn quyền con người, quyền công dân, đặc biệt đối với các nhóm yếu thế trong xã hội. Đồng thời, nâng cao chất lượng, tính chuyên nghiệp của đội ngũ người thực hiện trợ giúp pháp lý; tăng cường trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức có liên quan nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Bổ sung nhóm “người lao động có thu nhập thấp là người bị buộc tội, bị hại” nhằm bảo đảm tốt hơn quyền được trợ giúp pháp lý trong tố tụng hình sự. Bên cạnh đó, việc xác định diện người được trợ giúp pháp lý cần dựa trên các chính sách xã hội cơ bản (giảm nghèo, ưu đãi người có công, chính sách dân tộc...), đồng thời phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước.

Luật cũng quy định rõ tiêu chí, điều kiện áp dụng đối với từng nhóm đối tượng, bảo đảm tính minh bạch và khả thi. Đồng thời, bổ sung quy định mở "người được trợ giúp pháp lý khác theo quy định của pháp luật" để bảo đảm tính linh hoạt, phù hợp với yêu cầu thực tiễn trong từng giai đoạn.

9. Luật Hộ tịch năm 2026 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/3/2027

Luật gồm 4 Chương, 30 Điều, sau khi chỉnh lý bảo đảm tính hợp hiến, tính thống nhất với các luật có liên quan; đồng thời, cụ thể hóa chủ trương đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, cải cách thủ tục hành chính, chuyển đổi số trong lĩnh vực hộ tịch. Cơ sở dữ liệu hộ tịch đã được đưa vào vận hành thống nhất trên toàn quốc, kết nối, chia sẻ, cung cấp thông tin hộ tịch với các cơ sở dữ liệu có liên quan, nhất là Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và các hệ thống giải quyết thủ tục hành chính của các địa phương. Các cơ quan đăng ký hộ tịch đã thực hiện việc tra cứu dữ liệu hộ tịch phi địa giới để phục vụ giải quyết thủ tục hành chính. Về đăng ký khai sinh, khai tử theo phương thức chủ động, bổ sung lộ trình thực hiện đăng ký khai sinh, khai tử theo phương thức chủ động thống nhất trên toàn quốc chậm nhất là từ ngày 01/01/2031.

QH

TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ VỀ PHỔ BIẾN GIÁO DỤC PHÁP LUẬT

Cơ quan chủ quản: UBND thành phố Hải Phòng

Cơ quan quản lý: Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng

Trưởng Ban biên tập: Ngô Quang Giáp, Ủy viên Thành ủy, Giám đốc Sở Tư pháp

Thống kê truy cập: 0

Liên hệ

 Địa chỉ: Tòa nhà E, Trung tâm Chính trị - Hành chính, Khu đô thị Bắc sông Cấm, phường Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng

 Điện thoại: 0225.3846314

 Fax: 0225.3640091

 Email: sotp@haiphong.gov.vn