Ngày 30/6/2026, Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 89/2026/TT-BTC quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý thuế và Nghị định số 252/2026/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Quản lý thuế, có hiệu lực từ ngày 01/7/2026.
Theo đó, khoản 3 Điều 4 Thông tư số 89/2026/TT-BTC quy định: Trên cơ sở tiêu chí phân nhóm người nộp thuế theo quy định tại khoản 2 Điều 4, cơ quan thuế thực hiện phân tích dữ liệu, thông tin của người nộp thuế để đánh giá, xếp hạng người nộp thuế theo mức độ tuân thủ pháp luật về thuế và mức độ rủi ro về thuế, gồm:
* Mức độ tuân thủ pháp luật về thuế và lịch sử tuân thủ trong các khâu như đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế; tình trạng nợ thuế; kết quả kiểm tra thuế; việc chấp hành quyết định của cơ quan thuế;
* Mức độ rủi ro về thuế trong sử dụng hóa đơn điện tử, hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế, xác định nghĩa vụ thuế và các tiêu chí rủi ro phát sinh từ yêu cầu quản lý thuế trong từng thời kỳ;
* Với các phân nhóm người nộp thuế, cơ quan thuế áp dụng các biện pháp quản lý phù hợp với các mức độ rủi ro và phân loại tuân thủ theo 04 mức (tuân thủ tốt, tuân thủ trung bình, tuân thủ thấp, không tuân thủ):
(1) Người nộp thuế tuân thủ tốt và rủi ro thấp được áp dụng chế độ ưu tiên trong quản lý thuế theo quy định;
(2) Người nộp thuế tuân thủ trung bình và rủi ro thấp hoặc trung bình được áp dụng các chương trình hỗ trợ tuân thủ của cơ quan thuế, các biện pháp tuyên truyền, hỗ trợ, hướng dẫn, đào tạo nhằm nâng cao mức độ tuân thủ tự nguyện;
(3) Người nộp thuế tuân thủ thấp hoặc rủi ro cao được áp dụng biện pháp cảnh báo, giám sát, theo dõi để phòng ngừa rủi ro phát sinh; Trường hợp người nộp thuế tuân thủ thấp và rủi ro cao thì thuộc đối tượng áp dụng các biện pháp quản lý tăng cường, bao gồm kiểm tra, giám sát, cưỡng chế theo quy định của pháp luật và khi cần thiết, phối hợp với các cơ quan chức năng theo quy định;
(4) Người nộp thuế không tuân thủ sẽ đưa vào trường hợp giám sát trọng điểm về thuế.
Căn cứ khoản 2 Điều 4 Thông tư số 89/2026/TT-BTC thì tiêu chí phân nhóm người nộp thuế được xác định như sau: Căn cứ mục đích quản lý quy định tại khoản 1 Điều 4, cơ quan thuế xác định các tiêu chí phân nhóm người nộp thuế theo các đặc điểm tương đồng về địa bàn, quy mô, ngành nghề hoạt động sản xuất kinh doanh.
- Theo phạm vi địa bàn hoạt động, đăng ký thuế của người nộp thuế;
- Theo người nộp thuế là tổ chức, doanh nghiệp; người nộp thuế là hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh và cá nhân phát sinh nghĩa vụ thuế với ngân sách nhà nước và người nộp thuế là các tổ chức, loại người nộp thuế khác;
- Theo quy mô hoạt động của người nộp thuế như doanh thu, số nộp ngân sách nhà nước, quy mô vốn, tài sản, lao động và số lượng đơn vị phụ thuộc, địa điểm kinh doanh;
- Theo ngành nghề sản xuất kinh doanh, lĩnh vực, phương thức hoạt động và đặc điểm nghĩa vụ thuế phát sinh gắn với hoạt động đó, bao gồm: hoạt động sản xuất, thương mại, dịch vụ, vận tải, tài chính, xây lắp, bất động sản hoặc thương mại điện tử, kinh doanh trên nền tảng thương mại điện tử, nền tảng số khác; giao dịch xuyên biên giới và các lĩnh vực khác theo mục đích quản lý của cơ quan thuế;
- Theo mức độ tuân thủ pháp luật về thuế, lịch sử tuân thủ pháp luật về thuế và mức độ rủi ro về thuế của người nộp thuế.
Thông tư số 89/2026/TT-BTC góp phần hoàn thiện cơ chế quản lý thuế theo hướng phân loại người nộp thuế dựa trên mức độ tuân thủ và rủi ro, tạo điều kiện thuận lợi cho người nộp thuế chấp hành tốt pháp luật, đồng thời tăng cường quản lý đối với các trường hợp có nguy cơ rủi ro cao, qua đó nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về thuế.
Hoàng Long