Ngày 08/7/2026, tại Phiên họp thứ 4, Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XVI đã thông qua Pháp lệnh số 05/2026/UBTVQH16 (gọi là Pháp lệnh số 05) sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng số 02/2020/UBTVQH14 (gọi là Pháp lệnh số 02).Pháp lệnh số 05 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2027.
Việc ban hành Pháp lệnh số 05 nhằm thể chế hóa các chủ trương lớn của Đảng về tiếp tục hoàn thiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng, đồng thời điều chỉnh những quy định không còn phù hợp với mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp hiện nay. Một cách khái quát, nội dung sửa đổi, bổ sung của Pháp lệnh số 05 tập trung vào ba nhóm vấn đề lớn: (i) Hoàn thiện về kỹ thuật lập pháp; (ii) Mở rộng đối tượng thụ hưởng và nâng cao mức độ ưu đãi; (iii) Hoàn thiện cơ chế tổ chức thực hiện chính sách với người có công. Những nội dung sửa đổi đó được cụ thể hóa trong những quy định mới sau đây:
1. Hoàn thiện về kỹ thuật lập pháp
Lần đầu tiên Pháp lệnh số 05 xác lập khái niệm “người có công với cách mạng”: Điều 3 Pháp lệnh số 02 có liệt kê 12 nhóm đối tượng được coi là người có công với cách mạng nhưng chưa có quy định giải thích như thế nào là “người có công với cách mạng” nói chung. Tại khoản 1 Điều 1 của Pháp lệnh số 05 bổ sung một “định nghĩa” để có cách hiểu thống nhất: “Người có công với cách mạng là người có công lao, cống hiến trong sự nghiệp cách mạng, đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và thực hiện nghĩa vụ quốc tế, được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận”. Như vậy, từ chỗ chỉ liệt kê đối tượng đến nay, Pháp lệnh mới đã xây dựng được một khái niệm mang tính khái quát, tạo cơ sở pháp lý thống nhất để xác định phạm vi điều chỉnh và áp dụng toàn bộ hệ thống chính sách ưu đãi, giải quyết những vướng mắc phát sinh khi xét công nhận các trường hợp không nằm trong 12 nhóm liệt kê trước đây.
Bỏ yêu cầu hành động phải “đặc biệt dũng cảm”: Theo điểm k khoản 1 Điều 14 và điểm k khoản 1 Điều 23 Pháp lệnh số 02 quy định: Người hy sinh hoặc bị thương phải có hành động “đặc biệt dũng cảm” cứu người, cứu tài sản của Nhà nước, của Nhân dân hoặc ngăn chặn, bắt giữ người phạm tội, đồng thời hành động đó phải là tấm gương có ý nghĩa tôn vinh, giáo dục và lan tỏa rộng rãi trong xã hội mới được xem xét công nhận liệt sĩ, thương binh.
Tại khoản 8, khoản 10 Điều 1 của Pháp lệnh số 05 quy định điều kiện chỉ còn là hành động “dũng cảm” cứu người, cứu tài sản hoặc dũng cảm ngăn chặn, bắt giữ người phạm tội, không còn yêu cầu mức độ “đặc biệt” cũng như không còn yêu cầu về tính lan tỏa, giáo dục trong xã hội. Có thể nói, Pháp lệnh mới đã lược bỏ các tiêu chí mang tính định tính, khó lượng hóa (như “đặc biệt dũng cảm” hay “tấm gương tôn vinh, giáo dục, lan tỏa rộng rãi”, qua đó mở rộng phạm vi xem xét công nhận, đồng thời tạo thuận lợi hơn trong quá trình áp dụng pháp luật thay vì phụ thuộc vào đánh giá chủ quan.
Chính phủ được giao quy định thống nhất về thẩm quyền, thủ tục, hồ sơ công nhận người có công; quản lý các công trình ghi công liệt sĩ; chính sách cải thiện nhà ở; hỗ trợ sản xuất, giáo dục, đào tạo; ứng dụng công nghệ thông tin, xây dựng cơ sở dữ liệu về người có công; công tác tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ... Đồng thời, thuật ngữ quản lý ngành được điều chỉnh từ “ngành lao động - thương binh và xã hội” sang “ngành nội vụ” và một số quy định không còn phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp cũng được bãi bỏ hoặc sửa đổi. Đây là nhóm nội dung mang tính kỹ thuật lập pháp, bảo đảm tính đồng bộ giữa chính sách người có công với việc sắp xếp lại tổ chức bộ máy hành chính nhà nước được triển khai trong giai đoạn hiện nay.
2. Mở rộng đối tượng thụ hưởng và nâng cao mức độ ưu đãi đối với người có công
Hoàn thiện điều kiện công nhận liệt sĩ đối với thương binh chết do vết thương tái phát: Theo khoản 1 Điều 14 Pháp lệnh số 02, thương binh hoặc người hưởng chính sách như thương binh có tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lên được xem xét công nhận liệt sĩ khi đồng thời có bệnh án điều trị vết thương tái phát tại bệnh viện tuyến huyện trở lên và biên bản kiểm thảo tử vong xác định vết thương tái phát là nguyên nhân chính dẫn đến tử vong. Quy định này chặt chẽ về pháp lý nhưng thực tiễn áp dụng đã bộc lộ điểm bất cập, đó là: trong nhiều trường hợp thương binh nặng, đặc biệt là nhóm có tỷ lệ tổn thương từ 81% trở lên, khi bệnh tình chuyển biến nguy kịch thường được gia đình xin đưa về nhà theo nguyện vọng hoặc chuyển đến các cơ sở nuôi dưỡng người có công, dẫn đến không đủ hồ sơ, giấy tờ theo yêu cầu, khiến việc công nhận liệt sĩ gặp khó khăn.
Để khắc phục hạn chế nêu trên, tại khoản 8 Điều 1 của Pháp lệnh số 05 đã tách thành hai trường hợp: Thứ nhất: Thương binh có tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% đến 80% chết do vết thương tái phát thì vẫn phải xác định nguyên nhân tử vong là do vết thương tái phát như trước. Thứ hai: Thương binh có tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 81% trở lên khi chết: không bắt buộc phải chứng minh nguyên nhân tử vong là do vết thương tái phát. Sự thay đổi trong quy định nêu trên có ý nghĩa nhân văn sâu sắc, không chỉ tạo điều kiện thuận lợi cho thân nhân của nhóm thương binh nặng khi họ qua đời mà còn gỡ bỏ điều kiện hồ sơ ràng buộc đối với nhóm thương binh nặng nhất, phù hợp hơn với thực tiễn và phong tục, tập quán của người dân.
Bổ sung điều kiện công nhận đối với lực lượng trực tiếp đấu tranh phòng, chống tội phạm: Pháp lệnh số 05 bổ sung tại khoản 1 Điều 14 và khoản 1 Điều 23 điều kiện công nhận liệt sĩ, thương binh đối với các lực lượng chức năng hy sinh, bị thương trong quá trình trực tiếp làm nhiệm vụ, công vụ đấu tranh phòng, chống tội phạm. Đây là nội dung mà trong Pháp lệnh năm 2020 chưa đề cập cụ thể. Đồng thời, Pháp lệnh số 05 hợp nhất một số điểm quy định rời rạc trước đây (điểm e, g, h khoản 1 Điều 14 và điểm e, g, h khoản 1 Điều 23) để bảo đảm tính khái quát, đầy đủ hơn về điều kiện công nhận liệt sĩ, thương binh trong các trường hợp làm nhiệm vụ quốc phòng, an ninh. Như vậy, Pháp lệnh số 05 không chỉ mở rộng phạm vi công nhận cho lực lượng phòng, chống tội phạm, đáp ứng yêu cầu bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội trong tình hình mới mà còn đơn giản hóa kỹ thuật lập pháp bằng cách hợp nhất các quy định trước đây mang tính chất phân tán, rời rạc.
Bổ sung trường hợp được khám giám định lại tỷ lệ tổn thương cơ thể: Khoản 4 Điều 23 Pháp lệnh số 02 quy định: Thương binh có vết thương đặc biệt tái phát, vết thương còn sót, vết thương bổ sung được khám giám định lại; Đối với thương binh loại B có vết thương còn sót, vết thương bổ sung được khám để xác định tỷ lệ tổn thương.
Khoản 10 Điều 1 Pháp lệnh số 05 sửa đổi nội dung trên theo hướng: Người bị thương đã được khám giám định, sau đó có vết thương còn sót hoặc vết thương bổ sung cũng thuộc diện được khám giám định lại tỷ lệ tổn thương cơ thể. Có thể thấy, quy định mới trong Pháp lệnh số 05 đã xác định căn cứ pháp lý để giải quyết những trường hợp phát hiện thêm thương tích hoặc có tài liệu chứng minh vết thương chưa được tính sau lần giám định đầu tiên. Điều này đã khắc phục được “khoảng trống” mà quy định cũ chưa bao quát hết.
Mở rộng đối tượng người hoạt động kháng chiến, bảo vệ Tổ quốc, làm nghĩa vụ quốc tế: Điều 35 Pháp lệnh số 02 quy định: Người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, làm nghĩa vụ quốc tế là người tham gia kháng chiến và được Nhà nước khen tặng Huân chương Kháng chiến, Huân chương Chiến thắng, Huy chương Kháng chiến, Huy chương Chiến thắng.
Tại khoản 15 Điều 1 của Pháp lệnh số 05 sửa đổi nội dung trên bổ sung nhóm người làm nhiệm vụ ở biên giới, hải đảo; người làm nghĩa vụ quốc tế ở Lào, Campuchia và được Nhà nước khen tặng Huân chương Chiến công. Theo rà soát, thống kê của cơ quan chức năng, cả nước ta hiện có khoảng trên 85 nghìn người thuộc diện này. Do đó, việc mở rộng đối tượng thụ hưởng đối với người hoạt động kháng chiến, bảo vệ Tổ quốc, làm nghĩa vụ quốc tế chính là sự cụ thể hóa đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước một cách rõ nét nhất, ghi nhận đầy đủ hơn công lao của những người từng làm nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biên giới, hải đảo và thực hiện nghĩa vụ quốc tế nhưng trước đây chưa được đưa vào diện người có công với cách mạng.
Giảm ngưỡng tỷ lệ tổn thương cơ thể được hưởng chế độ điều dưỡng hằng năm từ 81% xuống 61%: Theo quy định tại khoản 3 Điều 24, khoản 3 Điều 27 và khoản 5 Điều 30 của Pháp lệnh số 02 chia thành các nhóm đối tượng hưởng chế độ điều dưỡng phục hồi sức khỏe hằng năm và nhóm hưởng chế độ điều dưỡng 2 năm/1 lần; trong đó, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học được điều dưỡng hằng năm khi có tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 81% trở lên; đối với nhóm có tỷ lệ thấp hơn (61%-80%) chỉ được điều dưỡng 2 năm/1 lần.
Khoản 11, 12, 14 Điều 1 Pháp lệnh số 05 quy định: Nhóm đối tượng có tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lên được chuyển sang chế độ điều dưỡng phục hồi sức khỏe hằng năm. Với ngưỡng tỷ lệ tổn thương cơ thể để được hưởng chế độ điều dưỡng hằng năm giảm từ 81% xuống còn 61%, quy định của Pháp lệnh mới đã mở rộng đáng kể số người được chăm sóc sức khỏe thường xuyên hơn thay vì 2 năm mới được điều dưỡng một lần như trước đây.
Thiết lập cơ chế xem xét công nhận người có công trong trường hợp thiếu hồ sơ: Thực tiễn thời gian qua áp dụng Pháp lệnh số 02 cho thấy: Có không ít trường hợp người có công với cách mạng nhưng do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có cả nguyên nhân khách quan do bị thất lạc hồ sơ, giấy tờ nên không đủ điều kiện để hưởng chế độ, chính sách ưu đãi của Nhà nước. Theo khoản 1 Điều 48 Pháp lệnh số 02: Chính phủ “quy định thẩm quyền, thủ tục, hồ sdsơ công nhận, giải quyết chế độ ưu đãi đối với người có công với cách mạng và thân nhân của người có công với cách mạng; quy định thẩm quyền, thủ tục, hồ sơ công nhận, giải quyết chế độ ưu đãi người có công với cách mạng đối với những trường hợp còn tồn đọng”. Tuy nhiên, cách quy định này vẫn mang tính chung chung và chưa có cơ chế giải quyết cụ thể cho những trường hợp thiếu hồ sơ do các nguyên nhân khách quan lịch sử để lại. Để khắc phục hạn chế này, tại khoản 16 Điều 1 Pháp lệnh mới bổ sung quy định: Chính phủ “quyết định công nhận hoặc giao cơ quan, người có thẩm quyền xem xét công nhận người có công với cách mạng trong trường hợp còn thiếu hồ sơ nhưng có căn cứ thực tiễn và lịch sử rõ ràng hoặc trong trường hợp đặc biệt khác” (ví dụ như người có công với cách mạng từng hoạt động mật…).Quy định mới này là cơ sở pháp lý cụ thể để giải quyết những hồ sơ tồn đọng kéo dài nhiều năm do thất lạc giấy tờ trong chiến tranh, trong quá trình hoạt động cách mạng hoặc do điều kiện lịch sử khách quan… vốn là những vấn đề mà trong Pháp lệnh số 02 chưa có hướng xử lý rõ ràng. Tuy nhiên, cần khẳng định: Việc thiếu hồ sơ không đồng nghĩa với việc sẽ đương nhiên được công nhận chế độ chính sách; hồ sơ đề nghị để được công nhận vẫn cần phải có các căn cứ thực tiễn hay các minh chứng lịch sử và do cơ quan có thẩm quyền xem xét.
3. Hoàn thiện cơ chế tổ chức thực hiện chính sách với người có công
Bảo đảm mức sống tốt hơn cho bản thân người có công và gia đình họ: Theo khoản 2 Điều 6 Pháp lệnh số 02 thì chế độ ưu đãi phải bảo đảm mức sống của người có công với cách mạng “bằng hoặc cao hơn mức trung bình của cộng đồng dân cư nơi cư trú”. Trong khi đó, tại khoản 3 Điều 1 Pháp lệnh số 05 quy định: “Bảo đảm người có công với cách mạng và gia đình người có công với cách mạng có mức sống từ trung bình khá trở lên so với mức sống của cộng đồng dân cư nơi cư trú”. Sự thay đổi ở đây không chỉ là Pháp lệnh mới nâng chuẩn mức sống từ “bằng hoặc cao hơn mức trung bình” lên “từ trung bình khá trở lên mà còn mở rộng phạm vi bảo đảm từ cá nhân người có công sang cả gia đình người có công.
Bổ sung chế độ trợ cấp cho người phục vụ và bảo hiểm y tế cho cán bộ lão thành cách mạng, tiền khởi nghĩa: Điều 9 Điều 12 Pháp lệnh số 02 quy định: Người hoạt động cách mạng trước ngày 01/01/1945 (cán bộ lão thành cách mạng) và người hoạt động cách mạng từ ngày 01/01/1945 đến ngày khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 (cán bộ tiền khởi nghĩa) được hưởng trợ cấp, bảo hiểm y tế, điều dưỡng, hỗ trợ nhà ở và các chế độ khác; chế độ trợ cấp người phục vụ chỉ áp dụng cho một số nhóm có tình trạng sức khỏe đặc biệt nặng như Bà mẹ Việt Nam anh hùng, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học có tỷ lệ tổn thương từ 81% trở lên sống tại gia đình.
Tuy nhiên, thực tiễn thực hiện quy định này cho thấy: Hiện nay, số cán bộ lão thành cách mạng, cán bộ tiền khởi nghĩa trên cả nước không còn nhiều[1]. Số người này hiện đã từ 90 tuổi trở lên, sức khỏe suy giảm, nhiều người không còn khả năng tự phục vụ và cần có người chăm sóc thường xuyên. Do đó, tại các khoản 4, 5, 6, 7 Điều 1 của Pháp lệnh số 05 quy định: Cán bộ lão thành cách mạng và cán bộ tiền khởi nghĩa sống ở gia đình cũng được hưởng thêm trợ cấp người phục vụ và bảo hiểm y tế cho người phục vụ. Việc mở rộng nhóm được hưởng trợ cấp người phục vụ sang cả cán bộ lão thành cách mạng, cán bộ tiền khởi nghĩa sống tại gia đình thể hiện sự ghi nhận và quan tâm của Đảng, Nhà nước đối với nhóm đối tượng tuổi cao, sức yếu nhưng trước đây chưa nằm trong diện thụ hưởng của chế độ này.
Thay đổi chủ thể nhận trợ cấp một lần: từ “thân nhân” hoặc “người thờ cúng” sang “đại diện thân nhân” hoặc “đại diện người thừa kế”: Theo khoản 4 Điều 10 và khoản 4 Điều 13 Pháp lệnh số 02: Khi người hoạt động cách mạng chết mà chưa được hưởng chế độ ưu đãi thì thân nhân hoặc người thờ cúng được hưởng trợ cấp một lần. Tại khoản 5, khoản 7 Điều 1 Pháp lệnh mới quy định: Đại diện thân nhân được hưởng trợ cấp một lần; trường hợp không còn thân nhân thì đại diện người thừa kế được hưởng trợ cấp một lần theo quy định của Chính phủ; thân nhân đủ điều kiện còn được hưởng chế độ trợ cấp tuất hằng tháng theo quy định. Như vậy, Pháp lệnh mới không còn xác định “người thờ cúng” là chủ thể nhận khoản trợ cấp một lần mà thay vào đó làm rõ cơ chế đại diện (có thể là đại diện thân nhân hoặc đại diện người thừa kế) nhằm giải quyết trường hợp có nhiều thân nhân cùng thuộc diện thụ hưởng.
Như vậy, so với Pháp lệnh số 02 thì Pháp lệnh số 05 có ba nội dung mới nổi bật. Một là: Tính chặt chẽ pháp lý (Pháp lệnh số 05 lần đầu tiên đưa ra khái niệm khái quát về “người có công với cách mạng” đồng thời loại bỏ nhiều tiêu chí định tính, khó lượng hóa, như: “đặc biệt dũng cảm”, yêu cầu về tính lan tỏa, giáo dục xã hội…, giúp việc áp dụng trong thực tiễn một cách thống nhất và minh bạch hơn). Hai là: Về phạm vi và mức độ thụ hưởng (Nhiều đối tượng mới được bổ sung, như: người làm nhiệm vụ biên giới, hải đảo, làm nghĩa vụ quốc tế ở Lào, Campuchia; lực lượng phòng, chống tội phạm; nhiều điều kiện được quy định theo hướng có lợi hơn cho người có công (thương binh 81% trở lên không cần chứng minh nguyên nhân tử vong; ngưỡng điều dưỡng hằng năm giảm từ 81% xuống 61%; bổ sung trợ cấp người phục vụ cho cán bộ lão thành cách mạng, cán bộ tiền khởi nghĩa; mục tiêu mức sống được nâng từ “bằng hoặc cao hơn trung bình” lên “từ trung bình khá trở lên” và mở rộng sang cả gia đình người có công. Ba là: Về giải quyết tồn đọng và tổ chức thực hiện (Pháp lệnh mới bổ sung cơ chế để giải quyết các trường hợp thiếu hồ sơ do nguyên nhân lịch sử, làm rõ chủ thể đại diện nhận trợ cấp một lần, đồng thời điều chỉnh các quy định về thẩm quyền, thuật ngữ quản lý cho phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp trong giai đoạn hiện nay).
Những quy định mới trong Pháp lệnh số 05 không đơn thuần là sự sửa đổi, bổ sung về kỹ thuật lập pháp mà quan trọng hơn, sự thay đổi đó thể hiện rất rõ quan điểm nhất quán của Đảng, Nhà nước ta trong việc tiếp tục chăm lo đời sống vật chất, tinh thần của người có công với cách mạng và thân nhân của họ, khẳng định tiếp tục phát huy đạo lý truyền thống“Uống nước nhớ nguồn” trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Ths Bùi Hải Thắng - Trường Chính trị Tô Hiệu
[1] Theo thống kê của cơ quan chức năng, cả nước hiện có 793 cán bộ thuộc diện này được bổ sung chế độ trợ cấp người phục vụ.