Ngày 24/08/2026, Quốc hội khóa XVI, Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất thông qua Luật Hòa giải ở cơ sở (sau đây gọi là Luật); Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/03/2027; Theo đó, quy định pháp luật về Tổ hòa giải bao gồm:
Tổ hòa giải là tổ chức tự quản của Nhân dân được thành lập ở thôn, tổ dân phố để hoạt động hòa giải ở cơ sở.
Tổ chức của Tổ hòa giải
Tổ hòa giải có Tổ trưởng và các hòa giải viên. Mỗi tổ hòa giải có từ 03 hòa giải viên trở lên, trong đó có hòa giải viên nữ. Đối với địa bàn có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số, tổ hòa giải phải có hòa giải viên là người dân tộc thiểu số bảo đảm phù hợp với đặc điểm dân cư của địa phương.
Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định số lượng tổ hòa giải trên địa bàn cấp xã, số lượng tổ hòa giải trong một thôn, tổ dân phố và số lượng hòa giải viên trong một tổ hòa giải căn cứ vào đặc điểm, tình hình kinh tế - xã hội, dân số của địa phương và đề nghị của Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã.
Hằng năm, Trưởng ban công tác Mặt trận chủ trì, phối hợp với Tổ trưởng tổ hòa giải tiến hành rà soát, đánh giá về tổ chức, hoạt động của tổ hòa giải và kiến nghị Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã để đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã kiện toàn tổ hòa giải.
Trách nhiệm của Tổ hòa giải
Tổ chức thực hiện hòa giải.
Tổ chức trao đổi kinh nghiệm, thảo luận các giải pháp để tiến hành hòa giải vụ, việc phức tạp.
Phối hợp với Ban công tác Mặt trận, Chi hội Phụ nữ, Chi đoàn Thanh niên, Chi hội Cựu chiến binh, Chi hội Nông dân, Chi hội Người cao tuổi, Tổ bảo vệ an ninh, trật tự, các tổ hòa giải và tổ chức, cá nhân khác trong hoạt động hòa giải ở cơ sở.
Kiến nghị với Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã, Ủy ban nhân dân cấp xã về hoạt động hòa giải ở cơ sở.
Đề nghị khen thưởng tổ hòa giải, hòa giải viên, người được mời tham gia hòa giải có thành tích xuất sắc trong công tác hòa giải ở cơ sở.
Tổ trưởng Tổ hòa giải
Tổ trưởng Tổ hòa giải do hòa giải viên bầu trong số các hòa giải viên để phụ trách tổ hòa giải.
Việc bầu Tổ trưởng Tổ hòa giải được thực hiện dưới sự chủ trì của Trưởng ban công tác Mặt trận bằng một hoặc kết hợp một số hình thức sau:
Biểu quyết công khai hoặc bỏ phiếu kín tại cuộc họp;
Biểu quyết trực tuyến.
Người được đề nghị công nhận là Tổ trưởng Tổ hòa giải phải đạt trên 50% tổng số hòa giải viên của tổ hòa giải đồng ý và là người có số phiếu bầu cao nhất.
Trưởng ban công tác Mặt trận có văn bản đề nghị công nhận Tổ trưởng tổ hòa giải để Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định công nhận.
Quyết định công nhận Tổ trưởng Tổ hòa giải được gửi cho Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã, Trưởng ban công tác Mặt trận, Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố, Tổ trưởng Tổ hòa giải và thông báo công khai ở thôn, tổ dân phố.
Quyền và nghĩa vụ của Tổ trưởng Tổ hòa giải
Phân công, phối hợp hoạt động của các hòa giải viên.
Đại diện cho tổ hòa giải trong quan hệ với Trưởng ban công tác Mặt trận, Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác trong thực hiện trách nhiệm của tổ hòa giải.
Đề nghị cho thôi làm hòa giải viên theo quy định pháp luật về hòa giải ở cơ sở.
Báo cáo kịp thời với Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã và cơ quan có thẩm quyền về các vụ, việc phát hiện mâu thuẫn, tranh chấp có dấu hiệu vi phạm pháp luật hành chính hoặc vi phạm pháp luật hình sự.
Báo cáo hằng năm, đột xuất về tổ chức và hoạt động của tổ hòa giải với Ủy ban nhân dân, Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã.
Phối hợp với Tổ trưởng Tổ hòa giải khác để trao đổi kinh nghiệm hoặc tiến hành hòa giải những vụ, việc liên quan đến các thôn, tổ dân phố khác nhau.
Thực hiện thủ tục đề nghị thanh toán thù lao theo vụ, việc hòa giải cho hòa giải viên trong tổ hòa giải và cho người được mời tham gia hòa giải theo quy định, kinh phí hoạt động của tổ hòa giải theo quy định của pháp luật.
Có các quyền, nghĩa vụ của hòa giải viên quy định tại Điều 12 và Điều 13 của Luật Hòa giải ở cơ sở.
Như vậy, so với Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đã bổ sung, cải tiến nhiều quy định linh hoạt, thuận lợi và bảo đảm quyền lợi thực tế hơn cho các bên tham gia, Tổ hòa giải; Luật bổ sung hình thức hòa giải trực tuyến hoặc kết hợp giữa trực tiếp và trực tuyến (ngoài hình thức trực tiếp truyền thống), giúp người dân dễ dàng tham gia giải quyết mâu thuẫn ngay cả khi không thể gặp mặt trực tiếp; Bổ sung rõ các quy định cụ thể về việc thôi làm Tổ trưởng Tổ hòa giải, đồng thời cơ cấu Tổ hòa giải được quy định rõ ràng hơn để bảo đảm tính đại diện (có hòa giải viên nữ, người dân tộc thiểu số nếu có); Hoạt động hòa giải được định hướng tiến hành linh hoạt, thuận lợi cho các bên, hạn chế tối đa việc "hành chính hóa" để sát với thực tiễn đời sống cộng đồng.
QD