Ngày 10 tháng 12 năm 2025, Quốc hội khóa XV, Kỳ họp thứ 10 thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công nghiệp quốc phòng, an ninh và động viên công nghiệp số 199/2025/QH15 (sau đây gọi là Luật); Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
Chức năng, nhiệm vụ, thành phần của Tổ hợp công nghiệp an ninh quốc gia
Tổ hợp công nghiệp an ninh quốc gia do Nhà nước dẫn dắt, định hướng, với hạt nhân là các cơ sở công nghiệp an ninh nòng cốt, sự tham gia của các tổ chức, doanh nghiệp trong và ngoài Công an nhân dân có nguồn lực, tiềm lực khoa học và công nghệ để tổ chức thực hiện các nhiệm vụ xây dựng và phát triển công nghiệp an ninh.
* Tổ hợp công nghiệp an ninh quốc gia có chức năng, nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ, thiết kế, chế tạo, thử nghiệm, sản xuất, hoàn chỉnh, sửa chữa, cải hoán, cải tiến, hiện đại hóa các sản phẩm, dịch vụ công nghiệp an ninh, trọng tâm là các nhóm sản phẩm, dịch vụ: sản phẩm, dịch vụ công nghiệp an toàn, an ninh mạng; sản phẩm, dịch vụ công nghiệp dữ liệu lớn, điện toán đám mây, chuỗi khối, ứng dụng trí tuệ nhân tạo dựa trên dữ liệu lớn quốc gia; sản phẩm kỹ thuật nghiệp vụ, kỹ thuật hình sự, công cụ hỗ trợ, quân trang ngành công an; phương tiện tuần tra trên tuyến ven biển, tuyến sông; sản phẩm phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ; sản phẩm công nghệ sinh học đặc thù phục vụ an ninh sinh học; trang thiết bị, phương tiện kỹ thuật, công nghệ, dịch vụ bảo đảm an ninh hàng không; sản phẩm, dịch vụ khác theo quyết định của cấp có thẩm quyền.
Bộ trưởng Bộ Công an quyết định danh mục sản phẩm, dịch vụ cụ thể thuộc các nhóm sản phẩm, dịch vụ theo quy định nêu trên;
- Làm chủ công nghệ chiến lược, công nghệ nền, công nghệ lõi, chuyển giao, tiếp nhận chuyển giao công nghệ tiên tiến, hiện đại;
Huy động nguồn lực quốc gia phát triển công nghiệp an ninh;
Nghiên cứu, sản xuất, cung cấp sản phẩm, dịch vụ phục vụ dân sinh, chuyển giao công nghệ phù hợp cho công nghiệp dân sinh, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội;
Nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế, tham gia xuất khẩu sản phẩm, dịch vụ công nghiệp an ninh.
Thành phần của Tổ hợp công nghiệp an ninh quốc gia bao gồm:
Hạt nhân Tổ hợp công nghiệp an ninh quốc gia là cơ sở công nghiệp an ninh nòng cốt;
Thành viên tham gia Tổ hợp công nghiệp an ninh quốc gia gồm các tổ chức, doanh nghiệp trong và ngoài Công an nhân dân.
Thủ tướng Chính phủ quyết định cơ sở công nghiệp an ninh nòng cốt là hạt nhân Tổ hợp công nghiệp an ninh quốc gia. Bộ trưởng Bộ Công an quyết định thành viên tham gia Tổ hợp công nghiệp an ninh quốc gia.
Hạt nhân Tổ hợp công nghiệp an ninh quốc gia
Hạt nhân Tổ hợp công nghiệp an ninh quốc gia là cơ sở công nghiệp an ninh nòng cốt có đủ nguồn lực, tiềm lực khoa học và công nghệ để chủ trì tổ chức nghiên cứu, thiết kế, chế tạo, thử nghiệm, sản xuất và hoàn chỉnh sản phẩm, dịch vụ công nghiệp an ninh.
Hạt nhân Tổ hợp công nghiệp an ninh quốc gia được hưởng các chính sách sau:
Các chính sách như sử dụng một phần từ Quỹ đầu tư phát triển của doanh nghiệp để hỗ trợ hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; Sử dụng cơ sở hạ tầng do Nhà nước đầu tư để phục vụ nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ;
Nhà nước hỗ trợ một phần kinh phí thực hiện nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo phục vụ chương trình nghiên cứu, sản xuất phương tiện kỹ thuật nghiệp vụ do Nhà nước giao nhiệm vụ, đặt hàng;
Được Nhà nước giao chủ trì thực hiện đề án, chương trình nghiên cứu, thiết kế, chế tạo, sản xuất sản phẩm, dịch vụ công nghiệp an ninh theo chuyên ngành; tự chủ trong nghiên cứu, sản xuất, liên doanh, liên kết với các thành viên tham gia Tổ hợp công nghiệp an ninh quốc gia.
Hạt nhân Tổ hợp công nghiệp an ninh quốc gia có trách nhiệm sau:
Chủ trì nghiên cứu, thiết kế, chế tạo, thử nghiệm, sản xuất và hoàn chỉnh sản phẩm, dịch vụ được giao nhiệm vụ, đặt hàng; tổ chức điều phối các thành viên tham gia Tổ hợp công nghiệp an ninh quốc gia trong quá trình thực hiện nhiệm vụ;
Chịu trách nhiệm về chất lượng sản phẩm, dịch vụ công nghiệp an ninh trong thực hiện nhiệm vụ;
Bảo đảm bí mật nhà nước, an ninh, an toàn trong quá trình liên doanh, liên kết, ký hợp đồng với các thành viên tham gia Tổ hợp công nghiệp an ninh quốc gia;
Hạch toán theo quy định của pháp luật.
Thành viên tham gia Tổ hợp công nghiệp an ninh quốc gia
Thành viên tham gia Tổ hợp công nghiệp an ninh quốc gia là các tổ chức, doanh nghiệp trong và ngoài Công an nhân dân có nguồn lực, tiềm lực khoa học và công nghệ, được công nhận theo quyết định của Bộ trưởng Bộ Công an; thực hiện hoạt động nghiên cứu, thiết kế, chế tạo, thử nghiệm, sản xuất, hoàn chỉnh và cung ứng sản phẩm, dịch vụ công nghiệp an ninh và các hoạt động khác trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của Tổ hợp công nghiệp an ninh quốc gia.
Thành viên tham gia Tổ hợp công nghiệp an ninh quốc gia được hưởng các chính sách sau:
Được Nhà nước bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp trong quá trình tham gia hoạt động của Tổ hợp công nghiệp an ninh quốc gia;
Được xem xét, giao nhiệm vụ, đặt hàng, lựa chọn nhà thầu, hợp tác công tư hoặc hỗ trợ, đầu tư, cho vay thông qua Quỹ đầu tư phát triển công nghiệp an ninh để thực hiện đề án, chương trình nghiên cứu, thiết kế, chế tạo, thử nghiệm, sản xuất, hoàn chỉnh và cung ứng sản phẩm, dịch vụ công nghiệp an ninh theo chuyên ngành;
Được cung cấp và sử dụng thông tin trong phạm vi phục vụ triển khai nhiệm vụ hoạt động của Tổ hợp công nghiệp an ninh quốc gia;
Doanh nghiệp thực hiện hợp đồng nghiên cứu, thiết kế, chế tạo, thử nghiệm, sản xuất, hoàn chỉnh và cung ứng sản phẩm, dịch vụ công nghiệp an ninh được hưởng các chính sách theo quy định nêu trên và các ưu đãi về thuế, tín dụng, thuê đất, lao động, tiếp cận, chuyển giao công nghệ, xuất khẩu sản phẩm, dịch vụ công nghiệp an ninh theo quy định của pháp luật.
Thành viên tham gia Tổ hợp công nghiệp an ninh quốc gia có trách nhiệm:
Tham gia hoạt động của Tổ hợp công nghiệp an ninh quốc gia theo đúng phạm vi, nhiệm vụ, kế hoạch, lĩnh vực được giao và tuân thủ hợp đồng đã ký kết;
Bảo đảm an ninh, an toàn trong sản xuất an ninh;
Bảo đảm bí mật nhà nước, bí mật công nghệ liên quan đến quá trình liên doanh, liên kết, ký kết và thực hiện hợp đồng theo quy định;
Chấp hành chế độ kiểm tra, báo cáo về hoạt động công nghiệp an ninh theo quy định của pháp luật.
Chính sách của Nhà nước đối với Tổ hợp công nghiệp an ninh quốc gia
Có chính sách về giao nhiệm vụ, đặt hàng, lựa chọn nhà thầu, hỗ trợ nguồn lực, hợp tác và đầu tư theo phương thức đối tác công tư để triển khai hoạt động của Tổ hợp công nghiệp an ninh quốc gia.
Tạo điều kiện thúc đẩy liên doanh, liên kết, hợp tác giữa các thành phần của Tổ hợp công nghiệp an ninh quốc gia.
Khuyến khích xây dựng chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia, chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia đặc biệt để nghiên cứu, phát triển công nghệ chiến lược, công nghệ nền, công nghệ lõi phục vụ sản xuất, chế tạo các sản phẩm công nghiệp an ninh.
Ưu tiên nguồn lực đầu tư cho nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ; ưu đãi về thuế, tín dụng và các chính sách ưu đãi khác theo quy định của pháp luật; phát triển hạ tầng, nguồn nhân lực chất lượng cao cho Tổ hợp công nghiệp an ninh quốc gia.
Sản phẩm, dịch vụ công nghiệp an ninh của Tổ hợp công nghiệp an ninh quốc gia được hưởng ưu đãi theo quy định của pháp luật về đấu thầu và của quy định pháp luật về tổ chức công nghiệp an ninh quốc gia.
QM