Thực hiện Quyết định số 291/QĐ-TTg ngày 13/02/2026 của Thủ tướng Chính phủ, Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng đã ban hành Kế hoạch số 153/KH-UBND ngày 28/4/2026 triển khai Chương trình bảo đảm mức sinh thay thế đến năm 2030 trên địa bàn thành phố, với mục tiêu duy trì ổn định mức sinh, góp phần bảo đảm quy mô, cơ cấu dân số hợp lý, phục vụ phát triển bền vững.
Theo Kế hoạch, thành phố phấn đấu đến năm 2030 tăng trung bình từ 0,5% đến 1,0% tổng tỷ suất sinh hằng năm; trên 95% cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ được cung cấp thông tin, tư vấn phù hợp; 100% xã, phường, đặc khu triển khai hiệu quả các chính sách hỗ trợ sinh con và nuôi con.

Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện
Một trong những nhiệm vụ trọng tâm được thành phố xác định là tiếp tục quán triệt sâu sắc chủ trương chuyển trọng tâm chính sách dân số sang dân số và phát triển, trong đó chú trọng duy trì mức sinh thay thế. Các địa phương sẽ được giao chỉ tiêu cụ thể về mức sinh, đặc biệt tập trung tại các khu vực có mức sinh thấp như đô thị, khu công nghiệp, khu kinh tế.
Các cơ quan, đơn vị được phân công nhiệm vụ rõ ràng, tăng cường kiểm tra, giám sát quá trình thực hiện. Đồng thời, kết quả thực hiện mục tiêu về mức sinh sẽ được gắn với đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của tập thể, cá nhân, nhất là người đứng đầu. Cán bộ, đảng viên được yêu cầu phát huy vai trò gương mẫu trong thực hiện chính sách dân số, góp phần lan tỏa tích cực trong xã hội.
Đẩy mạnh tuyên truyền, thay đổi nhận thức và hành vi
Công tác tuyên truyền được xác định là giải pháp then chốt, với nội dung tập trung phổ biến các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về dân số, đặc biệt là các quy định liên quan đến duy trì mức sinh thay thế.
Các hình thức tuyên truyền sẽ được đa dạng hóa, phù hợp với từng nhóm đối tượng, chú trọng thanh niên, người trong độ tuổi sinh đẻ và người lao động tại khu công nghiệp. Thành phố cũng tăng cường truyền thông trực tiếp tại cộng đồng, phát huy vai trò của đội ngũ cộng tác viên dân số, y tế cơ sở, đồng thời đẩy mạnh ứng dụng công nghệ, mạng xã hội và các loại hình văn hóa, nghệ thuật trong tuyên truyền.
Bên cạnh đó, nội dung giáo dục về dân số và sức khỏe sinh sản sẽ được đổi mới, giúp người dân hiểu rõ lợi ích của việc kết hôn, sinh con đúng thời điểm, không sinh quá muộn hoặc sinh quá ít, góp phần nâng cao chất lượng dân số.
Hoàn thiện chính sách hỗ trợ sinh con và nuôi con
Thành phố sẽ tiếp tục rà soát, đề xuất sửa đổi các quy định chưa phù hợp, đồng thời hoàn thiện các chính sách khuyến khích sinh con nhằm duy trì mức sinh thay thế. Các chính sách hỗ trợ sẽ ưu tiên đối với hộ nghèo, cận nghèo, đối tượng bảo trợ xã hội và người dân vùng ven biển, hải đảo.
Nhiều giải pháp thiết thực được triển khai như hỗ trợ dịch vụ kế hoạch hóa gia đình, phát triển hệ thống nhà trẻ, cơ sở giáo dục mầm non, dịch vụ trông giữ trẻ; xây dựng môi trường thân thiện với gia đình có con nhỏ.
Đặc biệt, thành phố nghiên cứu các chính sách hỗ trợ về nhà ở, việc làm, an sinh xã hội nhằm giảm áp lực kinh tế cho các cặp vợ chồng trẻ; đồng thời bảo đảm công bằng trong tiếp cận giáo dục, nhất là giáo dục công lập.
Mở rộng dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản
Hải Phòng chú trọng bảo đảm mọi người dân được tiếp cận đầy đủ, thuận tiện các dịch vụ kế hoạch hóa gia đình và chăm sóc sức khỏe sinh sản, không phân biệt giới tính hay tình trạng hôn nhân. Qua đó, giúp mỗi cá nhân, cặp vợ chồng chủ động quyết định số con, thời điểm sinh và khoảng cách sinh phù hợp.
Các mô hình dự phòng và điều trị vô sinh sẽ được phát triển; tăng cường ứng dụng công nghệ, chuyển giao kỹ thuật trong hỗ trợ sinh sản. Đồng thời, đẩy mạnh cung cấp dịch vụ tại tuyến cơ sở, đặc biệt tại các khu vực khó khăn, vùng ven biển, hải đảo.
Công tác tư vấn, khám sức khỏe trước khi kết hôn cũng được chú trọng nhằm phát hiện sớm các nguy cơ ảnh hưởng đến chất lượng dân số.
Nâng cao năng lực và tăng cường giám sát
Thành phố sẽ tổ chức đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác dân số, nhất là cộng tác viên cơ sở, nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới.
Bên cạnh đó, đẩy mạnh nghiên cứu khoa học về dân số, xây dựng hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu phục vụ công tác quản lý, điều hành. Công tác kiểm tra, giám sát sẽ được tăng cường; định kỳ sơ kết, tổng kết để kịp thời điều chỉnh giải pháp, bảo đảm Kế hoạch được triển khai hiệu quả, phù hợp với thực tiễn.
Nhật Linh