Ngày 10/12/2025, Quốc hội thông qua Luật Viên chức, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế cho Luật Viên chức năm 2010. Với những điểm mới mang tính “đột phá”, Luật Viên chức năm 2025 không chỉ sửa đổi, bổ sung các quy định pháp lý đơn lẻ, mà thể hiện một sự chuyển dịch căn bản trong tư duy quản lý: từ chú trọng ổn định vị trí và thâm niên công tác sang lấy hiệu quả công việc, năng lực thực chất và trách nhiệm cá nhân làm trung tâm. Qua đó, đặt nền móng cho mô hình quản trị viên chức hiện đại, trong đó viên chức được xác định rõ là chủ thể cung ứng dịch vụ công, làm việc trên cơ sở hợp đồng trách nhiệm và chịu sự đánh giá gắn với hiệu quả phục vụ xã hội.

1. Từ khái niệm viên chức được sửa đổi đến cơ chế thu nhập gắn với hiệu quả công việc
Nếu như tại Điều 2 Luật Viên chức năm 2010, viên chức được xác định: “là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc và hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập” thì tại Điều 1 Luật Viên chức năm 2025 quy định: “Viên chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập và từ các nguồn thu hợp pháp khác theo quy định của pháp luật”. Như vậy, Luật Viên chức năm 2025 có kế thừa khái niệm viên chức theo Luật năm 2010 nhưng có sự bổ sung: ngoài việc hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập, viên chức còn được hưởng từ các nguồn thu hợp pháp khác theo quy định của pháp luật. Quy định mới đã mở rộng cơ sở pháp lý về thu nhập của viên chức, tạo tiền đề cho việc thực hiện cơ chế trả lương theo hiệu quả công việc, thu nhập tăng thêm và gắn với mức độ tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập. Đây là nội dung mà Luật Viên chức năm 2010 chưa quy định cụ thể.
2. Đề cao trách nhiệm, nghĩa vụ của viên chức và những việc không được làm nhằm đáp ứng yêu cầu công việc trong giai đoạn mới
Ngoài những nội dung mang tính chất kế thừa Luật Viên chức năm 2010, Luật Viên chức năm 2025 được thiết kế theo hướng cụ thể hóa, đồng thời có sự sửa đổi, bổ sung theo hướng đề cao yêu cầu đối với viên chức nhằm đáp ứng yêu cầu trong giai đoạn mới, cụ thể:
Thứ nhất: Ngoài những nghĩa vụ chung và những việc không được làm (tập trung vào việc chấp hành pháp luật, đạo đức nghề nghiệp và kỷ luật công vụ)…, viên chức còn có nghĩa vụ: “Trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; bảo vệ danh dự Tổ quốc và lợi ích quốc gia, dân tộc…” (khoản 1 Điều 7 Luật Viên chức năm 2025).
Thứ hai: Luật Viên chức năm 2025 bổ sung nghĩa vụ ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trong thực hiện nhiệm vụ của viên chức (khoản 1 Điều 8). Đây là quy định của Luật nhằm cụ thể hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Luật Viên chức năm 2025 được ban hành trong bối cảnh nền hành chính công Việt Nam đang đứng trước yêu cầu đổi mới toàn diện, chịu tác động mạnh mẽ của chuyển đổi số quốc gia, cải cách tổ chức bộ máy và đòi hỏi ngày càng cao về chất lượng dịch vụ công. Những thay đổi này cùng với quá trình tinh gọn các đơn vị sự nghiệp công lập đã đặt ra yêu cầu ngày càng cao hơn với đội ngũ viên chức.
Thứ ba: Điều 10 Luật Viên chức năm 2025 đã mở rộng các hành vi bị nghiêm cấm, trong đó bổ sung quy định viên chức không được đăng tải, phát tán, phát ngôn thông tin sai lệch làm ảnh hưởng đến hình ảnh, uy tín của đất nước, địa phương và đơn vị nơi công tác.
3. Mở rộng quyền nghề nghiệp của viên chức trong khuôn khổ kiểm soát liêm chính công vụ
Một trong những điểm mới nổi bật của Luật Viên chức năm 2025 so với Luật Viên chức năm 2010 đó là có sự thay đổi lớn về quyền của viên chức trong hoạt động nghề nghiệp và kinh doanh. Theo Điều 14 Luật Viên chức năm 2010, viên chức được phép góp vốn nhưng không được tham gia quản lý, điều hành doanh nghiệp. Trong khi đó, Điều 13 Luật Viên chức năm 2025 quy định: Viên chức: “Được ký hợp đồng lao động hoặc hợp đồng dịch vụ với cơ quan, tổ chức, đơn vị khác nếu pháp luật về ngành, lĩnh vực không cấm, bảo đảm không xung đột lợi ích theo quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng, không trái với thỏa thuận tại hợp đồng làm việc và không vi phạm đạo đức nghề nghiệp”; “Được góp vốn, tham gia quản lý, điều hành doanh nghiệp, hợp tác xã, bệnh viện, cơ sở giáo dục, tổ chức nghiên cứu khoa học ngoài công lập, trừ trường hợp pháp luật về phòng, chống tham nhũng, pháp luật về doanh nghiệp hoặc pháp luật về ngành, lĩnh vực có quy định khác”.
Như vậy, Luật Viên chức năm 2025 đánh dấu sự thay đổi đáng kể trong việc mở rộng quyền hoạt động nghề nghiệp của viên chức. Thay vì cách tiếp cận như trước đây, Luật năm 2025 chính thức cho phép viên chức được ký hợp đồng lao động, hợp đồng dịch vụ với cơ quan, tổ chức khác; được hành nghề với tư cách cá nhân; được góp vốn và tham gia quản lý, điều hành doanh nghiệp, hợp tác xã, cơ sở giáo dục, cơ sở y tế ngoài công lập, trừ trường hợp pháp luật có quy định cấm. Việc mở rộng quyền này đi kèm với yêu cầu không xung đột lợi ích và tuân thủ pháp luật về phòng, chống tham nhũng đã tạo nên sự khác biệt cơ bản so với Luật Viên chức năm 2010.
Sự thay đổi này phản ánh tư duy quản lý hiện đại, coi viên chức là nguồn lực tri thức cần được khai thác và phát huy, thay vì chỉ là đối tượng quản lý hành chính thuần túy. Tuy nhiên, việc mở rộng quyền không đồng nghĩa với buông lỏng quản lý. Luật Viên chức năm 2025 đặt các quyền này trong khuôn khổ kiểm soát chặt chẽ về liêm chính công vụ, phòng ngừa xung đột lợi ích và tuân thủ pháp luật về phòng, chống tham nhũng. Đây là sự chuyển dịch từ cách tiếp cận “cấm để phòng ngừa” sang “mở để quản lý”.
Đồng thời, cách quy định của Luật Viên chức năm 2025 cũng phù hợp với Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/10/2025. Theo đó, Điều 58 Luật này quy định: Viên chức, viên chức quản lý làm việc tại tổ chức khoa học và công nghệ công lập được tham gia góp vốn, tham gia quản lý, điều hành doanh nghiệp, làm việc tại doanh nghiệp do tổ chức thành lập hoặc tham gia thành lập để thương mại hóa kết quả nghiên cứu do tổ chức đó tạo ra khi được sự đồng ý của người đứng đầu tổ chức. Trường hợp viên chức quản lý là người đứng đầu tổ chức khoa học và công nghệ công lập thì phải được sự đồng ý của cấp trên quản lý trực tiếp.
4. Đa dạng hóa phương thức tuyển dụng viên chức
Luật Viên chức năm 2010 quy định tuyển dụng viên chức chủ yếu thông qua thi tuyển hoặc xét tuyển.
Điều 17 Luật Viên chức năm 2025 quy định theo hướng đa dạng hóa phương thức tuyển dụng viên chức. Ngoài 02 hình thức mang tính “truyền thống” nêu trên thì một số đối tượng như chuyên gia, nhà khoa học, người có tài năng, năng khiếu đặc biệt hoặc người có kinh nghiệm phù hợp với vị trí việc làm; Người đang ký hợp đồng làm công việc tại đơn vị sự nghiệp công lập; Các đối tượng khác theo quy định của pháp luật về ngành, lĩnh vực nếu đáp ứng ngay yêu cầu của vị trí việc làm thì được thực hiện theo hình thức “tiếp nhận vào làm viên chức”.
5. Phân định cụ thể các loại hợp đồng trong đơn vị sự nghiệp công lập
Luật Viên chức năm 2010 chủ yếu điều chỉnh quan hệ hợp đồng làm việc giữa viên chức và đơn vị sự nghiệp công lập.
Điều 20, Điều 21 Luật Viên chức năm 2025 đã phân định cụ thể 03 loại quan hệ hợp đồng, bao gồm hợp đồng làm việc đối với viên chức, ký hợp đồng đối với chuyên gia, nhà khoa học và hợp đồng dịch vụ. Trong đó:
Một là: Hợp đồng làm việc là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa viên chức hoặc người được tuyển dụng vào làm viên chức với người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập về vị trí việc làm, tiền lương, chế độ đãi ngộ, điều kiện làm việc, quyền, nghĩa vụ và các nội dung khác có liên quan. Căn cứ tính chất, yêu cầu nhiệm vụ, nguồn tài chính và nhu cầu về nguồn nhân lực của đơn vị sự nghiệp công lập, người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập quyết định theo thẩm quyền hoặc báo cáo cơ quan có thẩm quyền trước khi ký kết hợp đồng lao động hoặc hợp đồng dịch vụ để thực hiện các nhiệm vụ phù hợp với yêu cầu công việc của cơ quan, đơn vị.
Hai là: Ký hợp đồng đối với chuyên gia, nhà khoa học, luật gia, luật sư giỏi, doanh nhân tiêu biểu, xuất sắc hoặc người có trình độ chuyên môn cao trong các ngành, lĩnh vực chiến lược, trọng điểm để thực hiện công việc của vị trí việc làm quản lý, điều hành, phát triển đơn vị sự nghiệp công lập hoặc thực hiện công việc của vị trí việc làm chuyên môn, nghiệp vụ.
Ba là: Ký hợp đồng để thực hiện công việc của vị trí việc làm hỗ trợ. Đối với một số lĩnh vực hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể dục, thể thao và các lĩnh vực đặc thù khác yêu cầu tuổi nghề dưới 18 tuổi, việc ký kết hợp đồng được thực hiện theo quy định của Bộ luật Lao động.
6. “Năng lực đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung” trở thành một trong những tiêu chí để đánh giá viên chức
Trước đây, trong Luật Viên chức năm 2010 chưa có quy định tiêu chí về năng lực đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm. Trong khi đó, Luật Viên chức năm 2025 lần đầu tiên đưa vào tiêu chí này. Kết quả đánh giá viên chức được sử dụng làm căn cứ trực tiếp cho việc trả lương, tiền thưởng, bố trí, sử dụng và xử lý viên chức. Cụ thể, tại khoản 3 Điều 25 quy định về nội dung đánh giá viên chức bao gồm:
- Phẩm chất chính trị, phẩm chất đạo đức, đạo đức nghề nghiệp; ý thức kỷ luật, kỷ cương trong thực hiện nhiệm vụ; việc chấp hành quy định của pháp luật về viên chức và quy định của cơ quan, tổ chức, đơn vị;
- Năng lực chuyên môn, nghiệp vụ theo yêu cầu của vị trí việc làm; khả năng đáp ứng yêu cầu thực thi nhiệm vụ được giao thường xuyên, đột xuất; tinh thần trách nhiệm trong thực thi nhiệm vụ; thái độ phục vụ người dân, doanh nghiệp đối với các vị trí việc làm tiếp xúc trực tiếp với người dân, doanh nghiệp; khả năng phối hợp với đồng nghiệp;
- Năng lực đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung trong thực hiện nhiệm vụ;
- Kết quả thực hiện nhiệm vụ thông qua số lượng, chất lượng và tiến độ của sản phẩm theo vị trí việc làm;
- Nội dung khác theo yêu cầu của vị trí việc làm.
Ngoài các nội dung nêu trên, đối với viên chức quản lý còn được đánh giá theo kết quả hoạt động của đơn vị hoặc lĩnh vực được giao lãnh đạo, quản lý, phụ trách; khả năng tổ chức triển khai thực hiện nhiệm vụ; năng lực tập hợp, đoàn kết viên chức, người lao động thuộc thẩm quyền quản lý.
7. Những điểm mới khác
Ngoài những điểm mới cơ bản nêu trên, Luật Viên chức năm 2025 còn có một số nội dung mới tiến bộ, như:
Bố trí vào vị trí việc làm thấp hơn hoặc cho thôi việc nếu viên chức không hoàn thành nhiệm vụ: Luật Viên chức năm 2010 chưa quy định rõ mối liên hệ trực tiếp giữa kết quả đánh giá và việc cho thôi việc. Khoản 4 Điều 22 và Điều 26 Luật Viên chức năm 2025 quy định: Viên chức không hoàn thành nhiệm vụ hoặc không đáp ứng yêu cầu của vị trí việc làm có thể bị bố trí vào vị trí việc làm ở trình độ thấp hơn hoặc cho thôi việc. Đây là điểm mới quan trọng, nhằm nâng cao trách nhiệm cá nhân và khắc phục tình trạng “bình quân” trong quản lý viên chức. Điều này đặt ra yêu cầu đối với viên chức phải tự “nâng mình” mới để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới.
Điều chỉnh về kỷ luật viên chức và thời hiệu xử lý kỷ luật: So với Luật Viên chức năm 2010 (được sửa đổi, bổ sung năm 2019) thì Luật Viên chức năm 2025 đã “siết chặt” hơn quy định về kỷ luật. Theo Điều 36, Luật Viên chức năm 2025 đã kéo dài thời hiệu xử lý kỷ luật, theo đó thời hiệu đối với hành vi bị khiển trách tăng từ 02 năm lên 05 năm, các hành vi vi phạm khác tăng từ 05 năm lên 10 năm. Các trường hợp không áp dụng thời hiệu tiếp tục được giữ nguyên. Thời hạn xử lý kỷ luật tối đa 90 ngày, trường hợp phức tạp không quá 150 ngày. Ngoài ra, thời gian điều tra, truy tố, xét xử hình sự không được tính vào thời hiệu xử lý kỷ luật.
Quản lý viên chức bằng dữ liệu số và hồ sơ điện tử: Luật Viên chức năm 2010 chủ yếu quy định quản lý hồ sơ viên chức theo hồ sơ bản giấy. Điều 41 Luật Viên chức năm 2025 nhấn mạnh tới việc quản lý hồ sơ điện tử. Theo đó, hồ sơ viên chức bao gồm hồ sơ giấy và hồ sơ điện tử, được quản lý trên hệ thống thông tin về viên chức và được cập nhật vào cơ sở dữ liệu quốc gia về viên chức. Hồ sơ viên chức phải có đầy đủ tài liệu theo quy định khi có thay đổi; cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền phê duyệt, cập nhật vào hồ sơ viên chức và đồng bộ với cơ sở dữ liệu quốc gia về viên chức.
Có điều luật riêng quy định về xử lý viên chức đã nghỉ việc, nghỉ hưu: Luật Viên chức năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2019) chưa có quy định đầy đủ về việc xử lý vi phạm đối với viên chức đã nghỉ việc, nghỉ hưu. Luật Viên chức năm 2025 đã tách riêng thành một điều luật độc lập (Điều 42) tập trung trực tiếp vào viên chức đã nghỉ việc, nghỉ hưu. Đồng thời khẳng định rõ nguyên tắc: “Mọi hành vi vi phạm trong thời gian công tác đều bị xử lý theo quy định của pháp luật”. “Căn cứ vào tính chất, mức độ nghiêm trọng, người có hành vi vi phạm có thể bị xử lý hình sự, hành chính hoặc xử lý kỷ luật”. Như vậy, pháp luật không đương nhiên miễn trách nhiệm của người vi phạm ngay cả khi đã nghỉ việc, nghỉ hưu. Chính điều này có ý nghĩa đề cao tính trách nhiệm của viên chức trong toàn bộ quá trình công tác.
Đất nước ta đang trước những thời cơ và vận hội mới. Với những điểm mới mang tính đột phá như đã phân tích nêu trên, Luật Viên chức năm 2025 không đơn thuần là văn bản sửa đổi của Luật Viên chức năm 2010 mà đã thiết lập những quy tắc mới trong quản lý viên chức, lấy hiệu quả, trách nhiệm và giá trị phục vụ xã hội làm trung tâm. Từ ngày 01/7/2026 tới đây, khi Luật Viên chức năm 2025 chính thức có hiệu lực, Luật này được kỳ vọng sẽ góp phần xây dựng đội ngũ viên chức chuyên nghiệp, năng động, sáng tạo và có trách nhiệm giải trình cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới./.
Ths Phạm Thị Liên - Trường Chính trị Tô Hiệu