“Chủ động thực thi; phát huy động lực; tăng trưởng bứt phá”
Thời gian: 23/06/2026 10:14

Quan tâm công tác PBGDPL cho nhóm đối tượng đặc thù: Góp phần thúc đẩy công bằng xã hội để “không ai bị bỏ lại phía sau”

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL) năm 2012 đã dành riêng 01 Mục trong Chương II để quy định về nội dung, hình thức PBGDPL cho một số đối tượng đặc thù. Các nhóm đối tượng đó bao gồm: đồng bào dân tộc thiểu số, người dân vùng sâu, vùng xa, cư dân biên giới, hải đảo, công nhân lao động, người khuyết tật, người cao tuổi, phụ nữ có hoàn cảnh khó khăn và các nhóm yếu thế khác… Điều này thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Đảng, Nhà nước ta đối với các nhóm đối tượng còn có hạn chế nhất định trong tiếp cận pháp luật. Tuy nhiên, trước sự biến đổi nhanh chóng của đời sống xã hội hiện nay, công tác PBGDPL nói chung và PBGDPL cho nhóm đối tượng đặc thù nói riêng cũng cần được đổi mới nhằm bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật của mọi công dân. Quyền tiếp cận pháp luật không chỉ là điều kiện cần thiết cơ bản để người dân thực hiện quyền, nghĩa vụ công dân mà còn là nền tảng quan trọng thúc đẩy dân chủ, từ đó bảo đảm công bằng xã hội để thực hiện mục tiêu “không ai bị bỏ lại phía sau”…

Luật PBGDPL năm 2012 tạo nền tảng nâng cao nhận thức pháp luật trong xã hội

Sau hơn 13 năm triển khai thực hiện, Luật PBGDPL năm 2012 đã tạo một hành lang pháp lý quan trọng để nâng cao nhận thức pháp luật trong xã hội và xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật. Một số kết quả nổi bật có thể kể đến, như:

Hội đồng phối hợp PBGDPL các cấp từng bước được kiện toàn, phát huy vai trò tham mưu, điều phối và kết nối giữa các cơ quan, đơn vị trong triển khai nhiệm vụ này. Sự tham gia của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, cơ quan báo chí, cơ sở giáo dục và chính quyền địa phương đã góp phần quan trọng đưa pháp luật đến gần hơn với cộng đồng dân cư. Mạng lưới báo cáo viên pháp luật, tuyên truyền viên pháp luật không ngừng được củng cố cả về số lượng và chất lượng, trở thành lực lượng nòng cốt trong việc đưa chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước thực sự đi vào cuộc sống. Nhiều chính sách, quy định pháp luật mới được truyền tải kịp thời tới người dân, doanh nghiệp, góp phần nâng cao tính minh bạch và hiệu quả thực thi pháp luật trong thực tiễn. Các tổ hòa giải ở cơ sở tiếp tục phát huy vai trò là “cầu nối” giữa pháp luật với cộng đồng, góp phần giải quyết nhiều mâu thuẫn, tranh chấp ngay từ cơ sở, hạn chế khiếu kiện kéo dài và giữ gìn đoàn kết trong Nhân dân. Hoạt động hưởng ứng Ngày Pháp luật Việt Nam được tổ chức hằng năm đã trở thành đợt sinh hoạt chính trị - pháp lý sâu rộng, góp phần nâng cao nhận thức pháp luật trong xã hội.

Nội dung và phương thức PBGDPL ngày càng đa dạng. Cùng với các hình thức mang tính truyền thốngnhư hội nghị, hội thảo, tập huấn hay phát hành tài liệu pháp luật… thì hiện nay, nhiều mô hình PBGDPL sinh động, đa dạng như việc tổ chức các phiên tòa giả định, trợ giúp pháp lý lưu động và đặc biệt là truyền thông pháp luật trên môi trường số. Trong đó có một số mô hình dành cho nhóm đối tượng đặc thù đã phát huy hiệu quả như phát thanh pháp luật bằng song ngữ tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số, phát huy vai trò người có uy tín trong cộng đồng hay tư vấn pháp luật cho công nhân tại các khu công nghiệp… Công tác PBGDPL cũng từng bước chuyển từ phương thức truyền đạt thông tin một chiều sang đối thoại và hỗ trợ người dân giải quyết các vấn đề phát sinh trong thực tiễn.

Tuy nhiên, việc tổng kết, đánh giá quá trình triển khai thi hành Luật PBGDPL năm 2012 cho thấy, trong giai đoạn hiện nay, việc thực hiện Luật này cũng tồn tại một số hạn chế nhất định, như: Việc ứng dụng công nghệ số còn chưa đồng đều; nguồn lực, chất lượng đội ngũ làm công tác PBGDPL chưa đáp ứng yêu cầu đặt ra trong tình hình mới …

Bình đẳng trong tiếp cận pháp luật - yếu tố nền tảng thực hiện công bằng xã hội

Trong Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân, pháp luật là yếu tố thượng tôn của đời sống xã hội. Pháp luật không chỉ là công cụ quản lý xã hội mà còn là thiết chế bảo vệ công lý, bảo đảm sự bình đẳng, quyền con người, quyền công dân. Để các quyền hiến định được hiện thực hóa, mọi người dân không phân biệt điều kiện vùng, miền, hay địa vị, tuổi tác, công việc… trước hết phải được tiếp cận đầy đủ, chính xác và kịp thời các quy định pháp luật liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Quyền tiếp cận pháp luật vì vậy có thể được xem là bước đầu tiên để người dân tiếp cận công lý, thực hiện các quyền và nghĩa vụ công dân. Khi hiểu biết pháp luật đầy đủ và đúng đắn, người dân có khả năng tự bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, từ đó hạn chế các hành vi vi phạm pháp luật, đồng thời chủ động tham gia giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước. Ngược lại, nếu thiếu thông tin pháp luật hoặc không có khả năng tiếp cận các nguồn thông tin chính thống, người dân dễ trở thành đối tượng bị tổn thương trong các quan hệ xã hội.

Quan điểm xuyên suốt được Đảng và Nhà nước xác định trong quá trình phát triển đất nước và trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội đó là “không để ai bị bỏ lại phía sau”. Trong lĩnh vực PBGDPL, điều này đồng nghĩa với việc mọi người dân, không phân biệt điều kiện kinh tế, nơi cư trú hay trình độ học vấn đều mong muốn có cơ hội tiếp cận bình đẳng với thông tin pháp luật cũng như các dịch vụ pháp lý cơ bản. Tuy nhiên, khả năng tiếp cận pháp luật giữa các nhóm dân cư hiện nay chưa thực sự đồng đều, đặc biệt, đối với các nhóm đối tượng đặc thù.

Những khó khăn trong tiếp cận pháp luật của nhóm đối tượng đặc thù

Trong việc tiếp cận pháp luật, nhóm đối tượng đặc thù có thể gặp phải một số “rào cản” nhất định, đó là:

Thứ nhất, về địa lý và hạ tầng thông tin: Đối với người dân tại vùng sâu, vùng xa, miền núi, biên giới và hải đảo thường gặp khó khăn trong tiếp cận các hoạt động tuyên truyền, tư vấn và hỗ trợ pháp luật do khoảng cách địa lý lớn, giao thông khó khăn và điều kiện hạ tầng thông tin còn hạn chế. Việc khai thác các nền tảng số, dịch vụ công trực tuyến hay cơ sở dữ liệu pháp luật điện tử ở nhiều nơi chưa thực sự thuận lợi cho người dân sinh sống ở những miền này.

Thứ hai, về trình độ học vấn và kỹ năng pháp lý của một bộ phận người dân: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện và mở rộng phạm vi điều chỉnh, nhiều quy định liên quan trực tiếp đến đời sống dân sinh như đất đai, lao động, bảo hiểm xã hội, an sinh xã hội hay các thủ tục hành chính đòi hỏi người dân phải có khả năng nhất định trong việc tìm hiểu, phân tích và vận dụng các quy định đó. Tuy nhiên, không phải ai cũng có điều kiện tiếp cận các nguồn thông tin chính thống hoặc được trang bị kỹ năng khai thác thông tin pháp luật một cách hiệu quả.

Thứ ba, về việc sử dụng các thiết bị điện tử hay các ứng dụng trực tuyến: Người cao tuổi thường gặp khó khăn trong việc sử dụng các thiết bị hay các ứng dụng này; Những hộ gia đình có điều kiện kinh tế khó khăn chưa có đủ thiết bị thông minh hoặc khả năng chi trả cho các dịch vụ kết nối Internet... Điều này dẫn đến một số nhóm yếu thế lại có nguy cơ bị tụt lại phía sau nếu không có các chính sách hỗ trợ phù hợp.

Thứ năm, trong bối cảnh chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, một thách thức mới đang đặt ra đối với việc bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, đó là khoảng cách số. Sự phát triển của công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo và các nền tảng số đã tạo điều kiện thuận lợi để người dân tiếp cận nhanh hơn với các văn bản quy phạm pháp luật, dịch vụ công trực tuyến và các hình thức tư vấn pháp lý từ xa. Tuy nhiên, khả năng tiếp cận và thụ hưởng các thành quả của chuyển đổi số giữa các nhóm dân cư vẫn còn có sự khác biệt, nhất là đối với các nhóm đối tượng đặc thù.

Chú trọng tính thiết thực trong công tác PBGDPL cho nhóm đối tượng đặc thù

Một trong những yếu tố cốt lõi xuyên suốt Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đó là lấy con người làm trung tâm, bảo đảm mọi công dân đều được tiếp cận pháp luật một cách bình đẳng và hiệu quả. Như vậy, trong giai đoạn mới, công tác PBGDPL cũng cần có sự thay đổi từ tư duy “cung cấp thông tin pháp luật” sang tư duy “hỗ trợ người dân thực thi pháp luật” nói chung và người dân thuộc nhóm đối tượng đặc thù nói riêng.

Kết luận số 80-KL/TW ngày 20/6/2020 của Ban Bí thư về việc tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 32-CT/TW tiếp tục xác định: “công tác PBGDPL là một bộ phận của công tác giáo dục chính trị, tư tưởng; là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng…”. Đồng thời Kết luận cũng yêu cầu “đổi mới cơ chế quản lý, sử dụng kinh phí, ưu tiên bố trí nguồn lực cho các nhóm đặc thù, yếu thế, đồng bào dân tộc, người dân ở vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn”. Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới cũng nhấn mạnh cần “ưu tiên nguồn lực tương xứng cho công tác PBGDPL, trợ giúp pháp lý cho đối tượng đặc thù, yếu thế, đồng bào dân tộc thiểu số”…

Hiện nay, dự thảo Luật PBGDPL năm 2026 đang được sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện. Theo báo cáo của Bộ Tư pháp, Hồ sơ dự thảo Luật đề cập 6 chính sách cơ bản gồm: (1) Phân định rõ trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong quản lý nhà nước, thực hiện PBGDPL; (2) Điều chỉnh cơ chế tổ chức và hoạt động của Hội đồng phối hợp PBGDPL phù hợp với chính quyền địa phương hai cấp; (3) Mở rộng đối tượng đặc thù và quy định rõ chính sách, trách nhiệm PBGDPL cho đối tượng đặc thù; (4) Phân quyền thành lập Hội đồng bộ, ngành theo hướng linh hoạt; (5) Quy định rõ nội dung, trách nhiệm giáo dục pháp luật trong các cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân; (6) Bổ sung cơ chế, chính sách và nguồn lực tương xứng cho công tác PBGDPL. Như vậy, việc mở rộng đối tượng đặc thù và quy định rõ chính sách, trách nhiệm PBGDPL cho đối tượng đặc thù là một trong những nội dung trọng tâm của Luật sửa đổi lần này. Việc sửa đổi này nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập đang tồn tại hiện nay và thể hiện rõ tinh thần nhân văn của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong việc bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật của mọi công dân.

Nội dung PBGDPL cần được thiết kế thiết thực, phù hợp với nhu cầu của từng nhóm đối tượng nói chung và nhóm đối tượng đặc thù nói riêng. Đơn cử như: Đối với đồng bào dân tộc thiểu số, cần chú trọng các quy định về đất đai, hôn nhân và gia đình, chính sách dân tộc, bảo vệ rừng….; Đối với công nhân lao động cần tập trung vào pháp luật lao động, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, an toàn vệ sinh lao động, giải quyết tranh chấp lao động …; Đối với ngư dân cần tăng cường phổ biến các quy định liên quan đến việc chống khai thác thủy sản bất hợp pháp, bảo vệ môi trường biển và chủ quyền quốc gia trên biển…; Đối với người cao tuổi cần quan tâm đến các quy định về an sinh xã hội, thừa kế, chăm sóc sức khỏe và bảo hiểm…

Việc xây dựng, vận hành Cổng Pháp luật quốc gia được đánh giá là bước tiến quan trọng trong quá trình số hóa lĩnh vực pháp luật, góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và khả năng tiếp cận thông tin của người dân. Tuy nhiên, cùng với phát triển công nghệ, cần có các giải pháp đồng bộ nhằm thu hẹp khoảng cách số giữa các nhóm dân cư thông qua đầu tư hạ tầng viễn thông, phổ cập kỹ năng số và hỗ trợ thiết bị công nghệ cho các nhóm yếu thế. Từ “bình dân học vụ” đến “bình dân học vụ số” giai đoạn mới hiện nay cần trở thành yêu cầu tự thân trong đời sống xã hội để mọi người dân đều có cơ hội bình đẳng trong tiếp cận pháp luật.

Như vậy, việc quan tâm tới công tác PBGDPL cho nhóm đối tượng đặc thù không chỉ góp phần thúc đẩy công bằng xã hội mà còn yêu cầu khách quan của quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Điều này góp phần nâng cao hiểu biết pháp luật và là phương thức quan trọng để bảo đảm quyền con người, quyền công dân và củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước. Trong bối cảnh chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế hiện nay, công tác PBGDPL cần được đổi mới toàn diện theo hướng lấy người dân làm trung tâm, bảo đảm mọi công dân đều có cơ hội tiếp cận pháp luật bình đẳng, thuận lợi và hiệu quả. Khi pháp luật thực sự đến được với từng người dân, đặc biệt là các nhóm yếu thế và nhóm đối tượng đặc thù, mục tiêu xây dựng xã hội dân chủ, công bằng, văn minh và không để ai bị bỏ lại phía sau mới có thể được hiện thực hóa một cách bền vững.

Phạm Liên, Trường Chính trị Tô Hiệu

TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ VỀ PHỔ BIẾN GIÁO DỤC PHÁP LUẬT

Cơ quan chủ quản: UBND thành phố Hải Phòng

Cơ quan quản lý: Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng

Trưởng Ban biên tập: Ngô Quang Giáp, Ủy viên Thành ủy, Giám đốc Sở Tư pháp

Thống kê truy cập: 0

Liên hệ

 Địa chỉ: Tòa nhà E, Trung tâm Chính trị - Hành chính, Khu đô thị Bắc sông Cấm, phường Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng

 Điện thoại: 0225.3846314

 Fax: 0225.3640091

 Email: sotp@haiphong.gov.vn