Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 213/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú. Nghị định có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, bổ sung nhiều quy định cụ thể về chế độ ăn, ở, sinh hoạt và chăm sóc sức khỏe đối với người bị tạm giữ, người bị tạm giam, góp phần bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân trong quá trình áp dụng các biện pháp ngăn chặn theo quy định của pháp luật.
Bảo đảm chế độ ăn phù hợp với từng nhóm đối tượng
Theo quy định mới, Nhà nước tiếp tục bảo đảm đầy đủ các nhu cầu thiết yếu về lương thực, thực phẩm đối với người bị tạm giữ, tạm giam. Khẩu phần ăn hằng tháng được xây dựng trên cơ sở bảo đảm dinh dưỡng và phù hợp với điều kiện thực tế tại từng địa phương.
Người bị tạm giam được Nhà nước bảo đảm tiêu chuẩn, định mức ăn trong 01 tháng gồm: 17 kg gạo tẻ; 15 kg rau xanh hoặc củ, quả; 1,5 kg thịt lợn; 1,5 kg cá; 05 quả trứng gà hoặc trứng vịt; 0,5 kg đường; 0,75 lít nước mắm; 0,3 lít dầu ăn; 0,1 kg bột ngọt; 0,5 kg muối; gia vị khác tương đương 0,5 kg gạo tẻ; nhiên liệu tương đương 17 kg củi hoặc 15 kg than hoặc 25 kWh điện hoặc 03 kg khí đốt (gas). Người bị tạm giữ, người bị tạm giam được bảo đảm điện, nước phục vụ nhu cầu sinh hoạt hằng ngày. Lương thực, thực phẩm, nguyên liệu, nhiên liệu bảo đảm chất lượng và có mức giá trung bình theo thời giá thị trường tại địa phương nơi cơ sở giam giữ đóng quân
Đáng chú ý, Nghị định quy định chế độ ăn riêng đối với các trường hợp đặc thù. Người dưới 18 tuổi được tăng thêm 20% khẩu phần thịt, cá và trứng; phụ nữ mang thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi được hưởng mức ăn bằng 02 lần định mức ăn ngày thường theo quy định và được hoán đổi theo chỉ định của y sĩ hoặc bác sĩ nhằm đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng cần thiết. Định mức ăn của người bị tạm giữ, người bị tạm giam ốm đau, bệnh tật, thương tích do Thủ trưởng cơ sở giam giữ quyết định theo chỉ định của y sĩ hoặc bác sĩ điều trị nhưng không quá 02 lần so với định mức ăn ngày thường.
Vào các dịp lễ, tết theo quy định của Nhà nước, người bị tạm giữ, tạm giam được tăng thêm bằng 05 lần định mức ăn ngày thường. Bên cạnh đó, người bị tạm giữ, người bị tạm giam được sử dụng tiền gửi lưu ký để mua đồ ăn thêm. Định mức đồ ăn mua trong 01 tháng không quá 05 lần định mức ăn trong 01 tháng của 01 người bị tạm giam.
Điều kiện sinh hoạt được bảo đảm theo tiêu chuẩn tối thiểu
Nghị định quy định rõ cơ sở giam giữ phải bảo đảm nơi ở sạch sẽ, thông thoáng, phù hợp với điều kiện khí hậu và vệ sinh môi trường. Tiêu chuẩn diện tích chỗ nằm cho người bị tạm giữ, người bị tạm giam tối thiếu là 02 m2, được bố trí sàn nằm và có chiếu. Chỗ nằm bảo đảm sạch sẽ, khô ráo, thông thoáng, phù hợp điều kiện thời tiết và yêu cầu vệ sinh môi trường. Khu vực bố trí chỗ nằm phải được sắp xếp hợp lý, bảo đảm trật tự, an toàn, không ảnh hưởng đến sức khỏe, sinh hoạt của người bị tạm giữ, người bị tạm giam.
Các cơ sở giam giữ được tổ chức bếp ăn riêng để phục vụ người bị tạm giữ, tạm giam. Việc chế biến, bảo quản thực phẩm phải tuân thủ các quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm nhằm bảo đảm sức khỏe cho người đang bị quản lý tại cơ sở giam giữ.
Trường hợp không đủ điều kiện tổ chức bếp ăn riêng, cơ sở giam giữ có thể bố trí nấu ăn tại bếp tập thể của đơn vị nhưng vẫn phải bảo đảm đúng tiêu chuẩn, định mức và chất lượng bữa ăn.
Bổ sung đầy đủ vật dụng thiết yếu phục vụ sinh hoạt
Ngoài việc được sử dụng quần, áo, chăn, chiếu, màn và các đồ dùng cần thiết cho sinh hoạt của cá nhân, người bị tạm giữ, tạm giam còn được cơ sở giam giữ cho mượn theo tiêu chuẩn mỗi người gồm: 01 chiếu; 01 màn cá nhân; 01 đôi dép; 02 bộ quần áo dài; 01 áo ấm mùa đông (các tỉnh, thành phố từ thành phố Đà Nẵng trở ra phía Bắc và 04 tỉnh Quảng Ngãi, Gia Lai, Đắk Lắk, Lâm Đồng) và 01 chăn (các tỉnh, thành phố từ thành phố Đà Nẵng trở ra phía Bắc và 04 tỉnh Quảng Ngãi, Gia Lai, Đắk Lắk, Lâm Đồng dùng chăn bông có vỏ tách rời loại không quá 02 kg; các tỉnh, thành phố còn lại dùng chăn sợi).
Các vật dụng sinh hoạt như chiếu, màn, dép, quần áo, chăn, áo ấm và đồ dùng vệ sinh cá nhân được cấp hoặc cho mượn theo định mức thống nhất: 01 bàn chải đánh răng, 01 khăn rửa mặt dùng trong 03 tháng; mỗi tháng được cấp 0,3 kg xà phòng, 80 ml dầu gội đầu, 50 g kem đánh răng.
Phụ nữ được bảo đảm thêm các vật dụng phục vụ nhu cầu vệ sinh riêng phù hợp với giới tính trị giá tương đương 02 kg gạo tẻ/người/tháng.
Những quy định này góp phần nâng cao điều kiện sinh hoạt, bảo đảm vệ sinh cá nhân và sức khỏe cho người bị tạm giữ, tạm giam trong thời gian chấp hành các quyết định tố tụng.
Tăng cường chăm sóc sức khỏe và bảo đảm quyền được khám, chữa bệnh
Một trong những điểm nổi bật của Nghị định là việc quy định cụ thể hơn về chế độ chăm sóc y tế đối với người bị tạm giữ, tạm giam.
Theo đó, người bị tạm giữ, tạm giam được khám và điều trị bệnh tại cơ sở y tế của cơ sở giam giữ hoặc tại các cơ sở khám chữa bệnh của Nhà nước. Trường hợp cơ sở y tế không có đủ thuốc điều trị, thân nhân có thể gửi thuốc theo đơn của bác sĩ để phục vụ quá trình điều trị.
Đối với các trường hợp có dấu hiệu mắc bệnh tâm thần hoặc các bệnh làm hạn chế khả năng nhận thức, cơ quan có thẩm quyền phải xem xét việc trưng cầu giám định theo quy định của pháp luật nhằm bảo đảm quyền lợi và việc áp dụng các biện pháp xử lý phù hợp.
Nghị định cũng nhấn mạnh việc chăm sóc đối với người nhiễm HIV, mắc bệnh lao, bệnh truyền nhiễm hoặc các bệnh mạn tính khác; đồng thời bảo đảm chế độ khám thai định kỳ đối với phụ nữ mang thai đang bị tạm giữ, tạm giam.
Nâng cao trách nhiệm phối hợp giữa cơ sở giam giữ và ngành y tế
Để bảo đảm công tác khám, chữa bệnh được thực hiện kịp thời, hiệu quả, Nghị định quy định các cơ sở khám chữa bệnh của Nhà nước có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ với cơ sở giam giữ trong việc tiếp nhận, điều trị người bị tạm giữ, tạm giam.
Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của Nhà nước có trách nhiệm thực hiện quy định chuyên môn và phối hợp với các cơ sở giam giữ trên địa bàn tổ chức khám bệnh, chữa bệnh cho người bị tạm giữ, người bị tạm giam. Trường hợp vượt quá khả năng chuyên môn điều trị của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thì cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phải kịp thời thông báo và phối hợp với cơ sở giam giữ để chuyển người bị tạm giữ, người bị tạm giam đến cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tuyến trên điều trị.
Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cấp cơ bản trở lên của Nhà nước trên địa bàn có cơ sở giam giữ đóng quân thì bố trí quỹ đất trong khuôn viên cơ sở khám bệnh, chữa bệnh để xây dựng khu điều trị riêng cho người bị tạm giữ, người bị tạm giam. Trường hợp không còn quỹ đất thì bố trí tối thiểu 03 buồng bệnh riêng trong cơ sở khám bệnh, chữa bệnh để điều trị cho người bị tạm giữ, người bị tạm giam và phải đảm bảo thuận lợi cho công tác quản lý người bị tạm giữ, người bị tạm giam.
Kinh phí khám, chữa bệnh được Nhà nước bảo đảm theo quy định: tiền thuốc chữa bệnh thông thường, vật tư y tế phục vụ cho người bị tạm giữ, người bị tạm giam được cấp không quá 05 kg gạo tẻ/01 người/01 tháng. Cơ sở giam giữ có trách nhiệm thanh toán chi phí thực tế phát sinh trong việc khám bệnh, chữa bệnh cho người bị tạm giữ, người bị tạm giam tại y tế của cơ sở giam giữ hoặc cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của Nhà nước.
Trường hợp thân nhân hoặc người đại diện hợp pháp tự nguyện chi trả một phần hoặc toàn bộ chi phí điều trị thì việc thực hiện phải được lập biên bản và ghi nhận đầy đủ theo quy định pháp luật.
Việc ban hành Nghị định số 213/2026/NĐ-CP tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý trong công tác quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam; đồng thời thể hiện sự quan tâm của Nhà nước đối với việc bảo đảm các quyền cơ bản của người bị tạm giữ, người bị tạm giam, phù hợp với các quy định của pháp luật và yêu cầu cải cách tư pháp trong giai đoạn hiện nay.
Nhật Linh