Cuộc thị
Thời gian: 25/09/2026 16:48

Chính sách pháp lý đặc thù đối với Khu Thương mại tự do thành phố Hải Phòng (Hải Phòng FTZ).

Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, pháp luật là một trong những công cụ quan trọng để quản lý nhà nước và xã hội. Cùng với yêu cầu về tính thống nhất, tính ổn định tương đối thì pháp luật còn cần có tính dự báo bởi thực tiễn luôn vận động, thay đổi nhanh hơn so với khả năng dự liệu của pháp luật. Điều này làm xuất hiện nhu cầu thử nghiệm chính sách, thử nghiệm thể chế. Kết quả thử nghiệm trở thành cơ sở thực tiễn để tiếp tục hoàn thiện chính sách. Với ý nghĩa đó, Khu Thương mại tự do thành phố Hải Phòng có ý nghĩa đặc biệt, có thể được xem như là một minh chứng về thử nghiệm chính sách với nhiều vấn đề đặt ra cả về lý luận và thực tiễn.

Cơ sở hình thành Khu Thương mại tự do thành phố Hải Phòng

Nghị quyết số 45-NQ/TW ngày 24/01/2019 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển thành phố Hải Phòng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 xác định mục tiêu xây dựng Hải Phòng trở thành thành phố công nghiệp hiện đại, trung tâm dịch vụ, công nghiệp, thương mại quốc tế và động lực phát triển của vùng Bắc Bộ. Để thực hiện mục tiêu đó, một trong những yêu cầu có tính nền tảng là phải tạo ra dư địa thể chế tương xứng với yêu cầu phát triển. Với những lợi thế tiềm năng về cảng biển, logistics, công nghiệp và vị trí địa kinh tế, Hải Phòng vẫn chịu tác động của những giới hạn từ cơ chế quản lý chung. Vì vậy, việc xây dựng cơ chế đặc thù cho thành phố là một yêu cầu có cơ sở thực tiễn.

Nghị quyết số 35/2021/QH15 ngày 13/11/2021 của Quốc hội về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển thành phố Hải Phòng là bước phát triển quan trọng đầu tiên. Sau quá trình thực hiện, đánh giá và tổng kết, Quốc hội tiếp tục ban hành Nghị quyết số 226/2025/QH15 ngày 27/6/2025 (thay thế Nghị quyết số 35/2021/QH15) với phạm vi cơ chế rộng hơn và mức độ đổi mới mạnh hơn, trong đó Nghị quyết này đã quy định một nhóm chính sách riêng đối với Khu Thương mại tự do.

Ngày 13/10/2025, Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng ban hành Quyết định số 4068/QĐ-UBND về việc thành lập Khu Thương mại tự do thành phố Hải Phòng (sau đây viết tắt là Hải Phòng FTZ - dịch từ tiếng Anh: Hai Phong Free Trade Zone). Ngày 30/7/2026 vừa qua, thành phố tổ chức hội nghị công bố các quyết định của Thủ tướng Chính phủ về khu kinh tế và khởi động Hải Phòng FTZ, đánh dấu bước chuyển từ xây dựng khung thể chế sang tổ chức triển khai trên thực tế. Như vậy, Hải Phòng FTZ không xuất hiện một cách ngẫu nhiên mà là kết quả của một quá trình: Từ bối cảnh thực tiễn của Hải Phòng và những tiềm năng, lợi thế sẵn có đến việc thí điểm cơ chế, chính sách đặc thù; từ việc tổ chức thực hiện đến việc đánh giá kết quả, nhận diện những nhu cầu mới để có cơ sở mở rộng không gian chính sách trong thời gian tới.

Bản chất pháp lý của Khu Thương mại tự do thành phố Hải Phòng

Khu Thương mại tự do là khu vực có ranh giới địa lý xác định, được thành lập để thực hiện thí điểm các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội, mang tính đột phá nhằm thu hút đầu tư, tài chính, thương mại, dịch vụ chất lượng cao, thúc đẩy xuất khẩu, công nghiệp, nghiên cứu và phát triển, đồng thời thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao.

Hải Phòng FTZ được thiết kế theo hướng tích hợp nhiều nhóm chính sách về đầu tư, thương mại, hải quan, thuế, đất đai, nguồn nhân lực, nghiên cứu và phát triển, logistics và dịch vụ. Do đó, có thể nhận định Hải Phòng FTZ có một không gian thể chế đặc biệt, trong đó Nhà nước cho phép áp dụng các quy tắc pháp lý đặc thù trong phạm vi địa lý xác định để kiểm nghiệm một mô hình phát triển mới.

Hải Phòng FTZ quy mô khoảng 6.292 ha bố trí tại các vị trí không liền kề gắn với Khu kinh tế Đình Vũ - Cát Hải và Khu kinh tế ven biển phía Nam Hải Phòng, được tổ chức thành các khu chức năng, bao gồm: Khu sản xuất, khu cảng và hậu cần cảng, trung tâm logistics, khu thương mại - dịch vụ và các loại hình khu chức năng khác theo quy định của pháp luật[1]. Thời gian thí điểm chính sách đối với Hải Phòng FTZ được thực hiện trong thời hạn 10 năm. Như vậy, mô hình này xác định đầy đủ các yếu tố cơ bản về không gian, về thời gian và cơ chế pháp lý khác biệt. Đây là những điều kiện quan trọng cần thiết để một chính sách có thể được tổ chức theo phương thức thử nghiệm.

Những chính sách pháp lý đặc thù đối với Khu Thương mại tự do thành phố Hải Phòng

Một là: Chính sách về đầu tư chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm. Một trong những điểm mới quan trọng là việc áp dụng thủ tục đầu tư đặc biệt đối với một số dự án thuộc các lĩnh vực ưu tiên. Nhóm lĩnh vực được định hướng ưu tiên bao gồm những ngành có hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng cao như bán dẫn, điện tử, công nghệ thông tin, tự động hóa, công nghệ sinh học, vật liệu mới, hạ tầng số và logistics. Ý nghĩa của chính sách này không chỉ nằm ở việc rút ngắn thời gian thủ tục mà quan trọng hơn, đây là sự thay đổi phương thức quản lý: từ kiểm soát chặt chẽ trước khi đầu tư sang tăng cường trách nhiệm của nhà đầu tư và hậu kiểm trong quá trình thực hiện dự án. Đây là hướng tiếp cận phù hợp với yêu cầu cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh nhưng đồng thời cũng đòi hỏi năng lực quản lý nhà nước phải thay đổi tương ứng bởi nếu “tiền kiểm” giảm nhưng “hậu kiểm” không đáp ứng được yêu cầu thì sẽ tạo ra những khoảng trống trong công tác quản lý nhà nước.

Hai là: Chính sách tạo thuận lợi cho nhà đầu tư nước ngoài. Một điểm đáng chú ý của Nghị quyết số 226/2025/QH15 là tạo cơ chế thuận lợi hơn cho nhà đầu tư nước ngoài trong Khu Thương mại tự do. Việc giảm bớt một số thủ tục trước khi thành lập tổ chức kinh tế có ý nghĩa lớn trong cạnh tranh thu hút đầu tư quốc tế. Tuy nhiên, chính sách này không đồng nghĩa với việc loại bỏ toàn bộ điều kiện tiếp cận thị trường. Nhà nước vẫn cần thiết duy trì những giới hạn nhất định đối với một số ngành nghề hay các lĩnh vực liên quan đến quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội... Như vậy, cần khẳng định, tính “tự do” của Khu Thương mại tự do chính là sự tự do trong một khuôn khổ pháp lý xác định.

Ba là: Chính sách thuế và đất đai tạo dư địa để phát triển. Một trong những ưu thế lớn của Khu Thương mại tự do là hệ thống ưu đãi thuế. Nghị quyết số 226/2025/QH15 quy định các ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp đối với những dự án thuộc lĩnh vực ưu tiên đồng thời có cơ chế khuyến khích hoạt động nghiên cứu và phát triển.

Đối với chính sách đất đai, Nghị quyết số 226/2025/QH15 trao cho Hải Phòng một số cơ chế đặc thù trong giao đất, cho thuê đất và thực hiện dự án trong Khu Thương mại tự do. Đây là điều kiện cần thiết để rút ngắn thời gian chuẩn bị đầu tư. Tuy nhiên, đất đai luôn là lĩnh vực nhạy cảm về kinh tế, xã hội và pháp lý. Do đó, cơ chế đặc thù phải được đặt trong mối quan hệ với các yêu cầu về bảo đảm sử dụng đất hiệu quả; bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất và kiểm soát nguy cơ đầu cơ, lợi ích nhóm cũng như sử dụng đất không đúng mục tiêu. Đặc biệt, khi áp dụng cơ chế đặc thù về đất đai thì yêu cầu về tính công khai, minh bạch các thông tin về dự án, nhà đầu tư, tiến độ và hiệu quả sử dụng đất càng trở nên quan trọng.

Bốn là: Thay đổi phương thức quản lý trong chính sách hải quan. Đối với Khu Thương mại tự do, chính sách hải quan có ý nghĩa rất quan trọng. Nghị quyết số 226/2025/QH15 đã thiết kế những cơ chế thuận lợi hơn về hải quan, trong đó có việc áp dụng chế độ ưu tiên và tăng cường quản lý dựa trên rủi ro. Điều này đòi hỏi hạ tầng dữ liệu, kết nối thông tin, phân tích rủi ro và năng lực chuyên môn của cơ quan hải quan cần phải được nâng lên tương ứng.

Năm là: Chính sách về con người nhằm thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao. Một trong những điểm đáng chú ý của Hải Phòng FTZ là chính sách dành cho chuyên gia, nhà khoa học, người có tài năng đặc biệt, nhà quản lý và lao động trình độ cao; theo đó, thành phố áp dụng chính sách giảm 50% thuế thu nhập cá nhân trong 10 năm đối với chuyên gia, nhà khoa học, người có tài năng, nhà quản lý và người lao động có trình độ cao có thu nhập từ tiền lương, tiền công phát sinh do thực hiện công việc tại Khu Thương mại tự do; đồng thời miễn thị thực và cấp thẻ tạm trú 10 năm cho người nước ngoài thuộc các nhóm này và thành viên gia đình làm việc tại doanh nghiệp có trụ sở chính trong Khu Thương mại tự do[2]. Điều này cho thấy tư duy chính sách đã chuyển từ việc thu hút vốn, thu hút dự án chuyển sang thu hút công nghệ và thu hút nhân lực chất lượng cao. Đây là hướng đi phù hợp với mục tiêu phát triển các ngành bán dẫn, công nghệ thông tin, tự động hóa, công nghệ cao và logistics hiện đại.

Vận hành Khu Thương mại tự do thành phố Hải Phòng: Những thuận lợi và khó khăn

Hải Phòng FTZ có những thuận lợi cơ bản mà trước hết là từ góc độ thể chế, việc tổ chức triển khai thực hiện của thành phố dựa trên cơ sở pháp lý trực tiếp từ Nghị quyết của Quốc hội. Điều này không chỉ tạo ra tính chính danh mà còn có khả năng xử lý một số khác biệt so với các quy định chung của pháp luật hiện hành; là cơ sở cho Chính phủ và các bộ, ngành hướng dẫn và tạo dư địa phân cấp, phân quyền cho thành phố. Đặc biệt, Nghị quyết số 226/2025/QH15 được thiết kế để thực hiện thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển thành phố Hải Phòng, do đó, bản thân mô hình đã mang tính thử nghiệm từ góc độ lập pháp.

Bên cạnh đó Hải Phòng FTZ có lợi thế về vị trí địa - kinh tế: Khu Thương mại tự do gắn với hệ thống khu kinh tế ven biển, cảng biển và logistics của Hải Phòng chính là nền tảng rất thuận lợi để hình thành chuỗi cảng biển - logistics - sản xuất - thương mại - dịch vụ - công nghệ cao - tài chính. Chính bởi vậy, định hướng của thành phố là phát triển Khu Thương mại tự do thành trung tâm sản xuất, logistics, thương mại - dịch vụ, công nghệ cao và tài chính có sức cạnh tranh khu vực và quốc tế. Ngoài ra, Hải Phòng đã có hệ sinh thái công nghiệp và logistics tương đối phát triển. Điều này tạo điều kiện để Hải Phòng FTZ không hoạt động biệt lập mà có thể kết nối với các khu công nghiệp; cảng biển; doanh nghiệp logistics; doanh nghiệp trong nước; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các trung tâm nghiên cứu và đào tạo... Đây là tiền đề để chính sách thử nghiệm có thể tạo ra hiệu ứng lan tỏa, thay vì chỉ tạo ra một khu vực ưu đãi riêng biệt. Tuy nhiên, cùng với những thuận lợi đó, việc vận hành Khu Thương mại tự do của thành phố không phải không có những khó khăn nhất định:

 Một là: Thể chế được đánh giá là yếu tố thuận lợi nhưng cũng là một thách thức không nhỏ trong việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật. Hoạt động của Khu Thương mại tự do đồng thời chịu tác động của nhiều lĩnh vực pháp luật, như: đầu tư; doanh nghiệp, đất đai, xây dựng, quy hoạch, môi trường, thuế, hải quan, lao động, xuất - nhập khẩu, an ninh, trật tự…Vì vậy, việc có một nghị quyết đặc thù chưa đồng nghĩa với việc tất cả các điểm nghẽn pháp lý đã được giải quyết. Một dự án có thể được đơn giản hóa thủ tục đầu tư nhưng vẫn gặp vướng mắc ở đất đai, xây dựng hoặc môi trường. Do đó, yêu cầu đặt ra là phải xây dựng một quy trình pháp lý có tính hệ thống, tính thống nhất cho Khu Thương mại tự do thay vì cải cách từng thủ tục một cách riêng lẻ.

Hai là: Thách thức về quản trị rủi ro. Việc thử nghiệm chính sách có thể đi kèm với yếu tố rủi ro. Đối với Khu Thương mại tự do, rủi ro có thể phát sinh từ các vấn đề như: gian lận xuất xứ thương mại, trốn thuế, lợi dụng ưu đãi, gây ô nhiễm môi trường, đầu cơ đất đai, vi phạm pháp luật lao động hay rủi ro an ninh, an toàn dữ liệu…Vì vậy, những yêu cầu mới đặt ra đó là: giảm tiền kiểm nhưng phải tăng hậu kiểm; giảm thủ tục nhưng cần tăng trách nhiệm giải trình; tăng quyền tự chủ, tăng sự minh bạch, giám sát... Điều này đặt ra yêu cầu về tăng cường năng lực quản trị của Ban Quản lý. Việc tiếp tục hoàn thiện phân cấp, ủy quyền và cơ chế phối hợp là vấn đề có ý nghĩa quyết định. Đây cũng là lý do Nghị quyết số 226/2025/QH15 đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện cơ chế quản lý và phân cấp, ủy quyền đối với Khu Thương mại tự do.

Ba là: Thách thức về đánh giá chính sách. Cần xác định việc triển khai Hải Phòng FTZ không chỉ là quá trình thử nghiệm cho riêng thành phố Cảng mà điều quan trọng là sau quá trình thử nghiệm, cần đánh giá kết quả có sự tác động như thế nào? Những chính sách có thể áp dụng cho các địa phương khác hay quy định nào cần sửa đổi nếu nhân rộng các địa phương có bối cảnh tương đồng… 

Một số kiến nghị hoàn thiện chính sách, pháp luật

Thứ nhất, xây dựng Hải Phòng FTZ như một “phòng thí nghiệm thể chế”: Không nên chỉ tập trung vào thu hút nhà đầu tư mà Hải Phòng cần xác định rõ: Khu Thương mại tự do là nơi thử nghiệm những phương thức quản trị mới. Qua đó, các kết quả thực tiễn sẽ trở thành bằng chứng để kiến nghị hoàn thiện pháp luật ở phạm vi rộng hơn.

Thứ hai, xây dựng cơ chế “một cửa pháp lý” cho nhà đầu tư: Cần tiến tới một quy trình trong đó doanh nghiệp không phải tự mình xác định và thực hiện hàng loạt thủ tục thuộc nhiều lĩnh vực. Thay vào đó, các cơ quan nhà nước sẽ cung cấp một hệ thống thủ tục minh bạch, dễ thực hiện và có thể dự báo cho doanh nghiệp.

Thứ ba, thiết lập cơ chế phản hồi chính sách thường xuyên. Mỗi doanh nghiệp trong Khu Thương mại tự do có thể được coi là một “nguồn dữ liệu chính sách”. Cần có cơ chế định kỳ: doanh nghiệp phản ánh, cơ quan quản lý tổng hợp, chuyên gia đánh giá, thành phố điều chỉnh, báo cáo Trung ương xem xét, quyết định. Từ đó hình thành hình thành vòng đời chính sách liên tục và có tính “mở”.

Thứ tư, xây dựng bộ chỉ số đánh giá chính sách. Hải Phòng có thể xây dựng bộ chỉ số đánh giá Khu Thương mại tự do với tư cách là một thử nghiệm thể chế. Theo đó, không nên chỉ đánh giá bộ chỉ số qua các tiêu chí mang tính “định lượng” là số vốn đầu tư, mà cần thiết bao gồm nhiều yếu tố cả “định lượng” và “định tính”, như: thời gian thực hiện thủ tục; chi phí tuân thủ; số dự án công nghệ cao; mức độ nội địa hóa; số lượng sáng chế; việc làm chất lượng cao; đóng góp cho ngân sách; mức độ kết nối doanh nghiệp trong nước; tác động môi trường hay sự hài lòng của doanh nghiệp…

Như vậy, từ thực tiễn của thành phố khi triển khai vận hành Hải Phòng FTZ có thể rút ra một số nhận xét ban đầu về việc thử nghiệm chính sách. Đó là: (i) Thử nghiệm chính sách không đồng nghĩa với nới lỏng pháp luật mà là đặt chính sách trong một khung pháp lý đặc biệt nhưng có giới hạn. (ii) Thử nghiệm chính sách không phải là sự trao quyền tuyệt đối mà trao quyền phải đi cùng với giám sát - minh bạch - trách nhiệm giải trình - kiểm soát rủi ro. (iii) Có thể coi Hải Phòng FTZ như một không gian địa lý, một “sandbox” hay một “phòng thí nghiệm thể chế” để đánh giá những ưu điểm hay hạn chế của chính sách. Mục tiêu cuối cùng của thử nghiệm chính sách không phải là duy trì cơ chế đặc thù của riêng một tỉnh/thành phố mà mục tiêu quan trọng hơn là tạo ra những bằng chứng cụ thể để góp phần hoàn thiện thể chế.

Hải Phòng FTZ là một trong những mô hình thử nghiệm thể chế đáng chú ý trong giai đoạn hiện nay. Trên nền tảng Nghị quyết số 226/2025/QH15 ngày 27/6/2025 của Quốc hội, Hải Phòng đã được trao một hệ thống cơ chế đặc thù tương đối toàn diện. Thực tiễn triển khai đã thể hiện nỗ lực đổi mới tư duy quản trị, kiến tạo một không gian chính sách đặc thù nhằm tạo động lực mới cho phát triển kinh tế, thu hút đầu tư và nâng cao năng lực cạnh tranh của thành phố. 

Nhìn từ góc độ chính sách pháp lý, giá trị cốt lõi của Khu Thương mại tự do thành phố Hải Phòng không đơn thuần là tạo ra một không gian ưu đãi, mà quan trọng hơn là mở ra một không gian thể chế đặc thù để thử nghiệm những phương thức quản trị và phát triển mới, qua đó kiểm nghiệm và tiếp tục hoàn thiện chính sách trong thực tiễn.

Ths Phạm Liên, Trường Chính trị Tô Hiệu

 Tài liệu tham khảo

1. Bộ Chính trị (2019), Nghị quyết số 45-NQ/TW ngày 24/01/2019 về xây dựng và phát triển thành phố Hải Phòng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

2. Quốc hội (2021), Nghị quyết số 35/2021/QH15 ngày 13/11/2021 về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển thành phố Hải Phòng.

3. Quốc hội (2025), Nghị quyết số 226/2025/QH15 ngày 27/6/2025 về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển thành phố Hải Phòng. 

4. Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng (2025), Quyết định số 4068/QĐ-UBND ngày 13/10/2025 về việc thành lập Khu Thương mại tự do thành phố Hải Phòng.


 

[1] Theo Quyết định số 4068/QĐ-UBND ngày 13/10/2025 của Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng.

[2] Theo Nghị quyết số 226/2025/QH15 ngày 27/6/2025 của Quốc hội

TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ VỀ PHỔ BIẾN GIÁO DỤC PHÁP LUẬT

Cơ quan chủ quản: UBND thành phố Hải Phòng

Cơ quan quản lý: Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng

Trưởng Ban biên tập: Ngô Quang Giáp, Ủy viên Thành ủy, Giám đốc Sở Tư pháp

Thống kê truy cập: 0

Liên hệ

 Địa chỉ: Tòa nhà E, Trung tâm Chính trị - Hành chính, Khu đô thị Bắc sông Cấm, phường Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng

 Điện thoại: 0225.3846314

 Fax: 0225.3640091

 Email: sotp@haiphong.gov.vn