Bồi thường của Nhà nước là cơ chế pháp lý quan trọng nhằm khắc phục thiệt hại, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức khi bị thiệt hại do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra. Nhằm tiếp tục hoàn thiện cơ chế này, ngày 23/8/2026, Quốc hội thông qua Luật số 15/2026/QH16 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/3/2027, với nhiều điểm mới đáng chú ý về phạm vi bồi thường, thủ tục giải quyết yêu cầu, phục hồi danh dự và trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ.
Mở rộng, làm rõ phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước
Một trong những nội dung quan trọng của Luật là sửa đổi, bổ sung quy định về phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính. Theo khoản 6 Điều 1, Điều 17 của Luật được sửa đổi, bổ sung theo hướng xác định cụ thể các trường hợp Nhà nước có trách nhiệm bồi thường.
Các trường hợp này bao gồm: ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính trái pháp luật; áp dụng trái pháp luật các biện pháp ngăn chặn, cưỡng chế hoặc xử lý hành chính; cấp, thu hồi, hủy bỏ hoặc từ chối cấp một số giấy phép, giấy chứng nhận trái pháp luật; áp dụng, thu hoặc truy thu thuế, phí, lệ phí trái pháp luật; thực hiện trái pháp luật các quyết định về đất đai, bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng, tái định cư. Luật cũng bổ sung trường hợp không áp dụng hoặc áp dụng không kịp thời, không đúng biện pháp bảo vệ người tố cáo, người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và người thân theo quy định pháp luật có liên quan.
Đơn giản hóa thủ tục, tăng tính thuận tiện trong yêu cầu bồi thường
Luật mới chú trọng rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ, tăng tính minh bạch và tạo thuận lợi cho người yêu cầu bồi thường. Cụ thể, Điều 41 quy định hồ sơ yêu cầu bồi thường gồm văn bản yêu cầu bồi thường và văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường; người dân có thể gửi hồ sơ qua môi trường số, nộp trực tiếp tại cơ quan giải quyết bồi thường hoặc Bộ phận Một cửa, hoặc gửi qua dịch vụ bưu chính. Theo Điều 42, trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày tiếp nhận văn bản yêu cầu, cơ quan giải quyết bồi thường phải kiểm tra tính đầy đủ của hồ sơ và hướng dẫn bổ sung hoặc yêu cầu làm rõ khi cần thiết. Khoản 1 Điều 43 quy định, trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đầy đủ, cơ quan có thẩm quyền phải thụ lý hồ sơ, cử người giải quyết và thông báo theo quy định.
Bên cạnh đó, Điều 45 quy định thời hạn xác minh thiệt hại là 10 ngày làm việc kể từ ngày thụ lý hồ sơ; đối với vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp hoặc phải xác minh tại nhiều địa điểm, thời hạn là 20 ngày làm việc. Điều 46 quy định việc thương lượng bồi thường phải được tiến hành trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày ban hành báo cáo xác minh thiệt hại và hoàn thành trong 08 ngày làm việc kể từ ngày tiến hành thương lượng; trường hợp phức tạp, thời hạn tối đa là 10 ngày làm việc, trừ thời gian được kéo dài theo thỏa thuận thuộc trường hợp luật quy định.
Những quy định này góp phần xác lập các mốc thời gian cụ thể trong quá trình giải quyết, giúp người dân thuận tiện theo dõi hồ sơ, đồng thời tăng trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền trong thực hiện trình tự, thủ tục.
Bảo đảm hỗ trợ kịp thời cho người bị thiệt hại
Một điểm mới đáng chú ý là cơ chế tạm ứng kinh phí bồi thường. Theo khoản 13 Điều 1, Điều 44 của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước được sửa đổi, bổ sung theo hướng cho phép người yêu cầu bồi thường đề nghị tạm ứng đối với một số khoản thiệt hại về tinh thần và thiệt hại khác có thể tính được ngay mà không cần xác minh.
Đặc biệt, khoản 2 Điều 44 quy định mức tạm ứng do Thủ trưởng cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại quyết định nhưng không thấp hơn 75% giá trị các thiệt hại thuộc diện được tạm ứng. Quy định này góp phần hỗ trợ người bị thiệt hại có nguồn kinh phí ban đầu để khắc phục khó khăn, thay vì phải chờ toàn bộ quá trình giải quyết yêu cầu bồi thường kết thúc.
Về việc chi trả, khoản 26 Điều 1 (sửa đổi Điều 62 của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước) quy định trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày quyết định giải quyết bồi thường có hiệu lực hoặc nhận được bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án, cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại phải thông báo cho người yêu cầu bồi thường; trong 02 ngày làm việc kể từ ngày người yêu cầu bồi thường nhận được thông báo, cơ quan có trách nhiệm thực hiện việc chi trả theo quy định.
Chú trọng phục hồi danh dự, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
Không chỉ dừng lại ở việc bồi thường bằng tiền, Luật tiếp tục hoàn thiện cơ chế phục hồi danh dự cho người bị thiệt hại. Theo khoản 10 Điều 1, khoản 1 Điều 31, xác định người bị thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự, công chức bị xử lý kỷ luật buộc thôi việc trái pháp luật và người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính trái pháp luật thuộc diện được phục hồi danh dự.
Về hình thức và trình tự thực hiện, khoản 22, khoản 23, khoản 24 và khoản 25 Điều 1 (sửa đổi, bổ sung các Điều 56, 57, 58 và 59 của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước). Theo đó, việc phục hồi danh dự trong một số trường hợp được thực hiện bằng hình thức trực tiếp xin lỗi, cải chính công khai hoặc đăng báo xin lỗi và cải chính công khai. Luật cũng quy định thời hạn 10 ngày làm việc đối với một số trách nhiệm thông báo, tổ chức xin lỗi hoặc đăng báo theo từng trường hợp cụ thể.
Hoàn thiện cơ chế hoàn trả, khuyến khích đổi mới, sáng tạo vì lợi ích chung
Luật cũng điều chỉnh quy định về trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ sau khi Nhà nước thực hiện bồi thường. Theo khoản 27 Điều 1, Điều 65 của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước được sửa đổi, bổ sung về xác định mức hoàn trả, giảm mức hoàn trả và miễn hoàn trả.
Theo đó, người thi hành công vụ gây thiệt hại do lỗi vô ý có thể được xem xét giảm mức hoàn trả tối đa 30% trên tổng số tiền phải hoàn trả nếu thuộc trường hợp luật quy định. Luật cũng bổ sung cơ chế miễn hoàn trả đối với một số trường hợp có lỗi vô ý, chủ động khắc phục hậu quả, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trong quá trình giải quyết yêu cầu bồi thường và đáp ứng các điều kiện cụ thể, như thực hiện đề xuất đổi mới, sáng tạo theo đúng chủ trương, phương án được cấp có thẩm quyền phê duyệt, không vụ lợi và mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội; hoặc thuộc một số hoàn cảnh đặc biệt được luật quy định. Quy định này góp phần bảo đảm việc xem xét trách nhiệm hoàn trả phù hợp với mức độ lỗi và hoàn cảnh cụ thể, đồng thời tạo cơ sở khuyến khích cán bộ, công chức đổi mới, sáng tạo vì lợi ích chung.
Với các quy định sửa đổi, bổ sung từ phạm vi trách nhiệm bồi thường, trình tự giải quyết, tạm ứng và chi trả kinh phí đến phục hồi danh dự, hoàn trả và quản lý nhà nước, Luật số 15/2026/QH16 góp phần hoàn thiện cơ chế bảo vệ người bị thiệt hại do hành vi trái pháp luật trong thi hành công vụ.