Vừa qua, dưới sự chủ trì của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn và sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Hồng, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về dự án Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV). Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn trình bày báo cáo tóm tắt về dự án Luật.
Chuyển từ “hỗ trợ” sang “kiến tạo phát triển”
Trình bày báo cáo, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn cho biết, Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017 đã tạo nền tảng pháp lý quan trọng cho việc hình thành hệ thống chính sách hỗ trợ doanh nghiệp. Tuy nhiên, trong bối cảnh Đảng và Nhà nước ban hành nhiều chủ trương, định hướng mới về phát triển kinh tế tư nhân, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và hoàn thiện pháp luật, yêu cầu đối với khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng có nhiều thay đổi.
Theo đó, chính sách không chỉ hướng tới gia tăng số lượng doanh nghiệp mà cần tập trung nâng cao chất lượng, năng lực cạnh tranh, khả năng đổi mới sáng tạo, tham gia chuỗi giá trị và khả năng phát triển thành doanh nghiệp có quy mô lớn hơn. Trên cơ sở đó, Chính phủ đề xuất xây dựng Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, thay thế Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017.
Việc đổi tên Luật không chỉ là sự thay đổi về tên gọi mà còn thể hiện sự chuyển biến trong tư duy xây dựng và thực thi chính sách: từ “hỗ trợ doanh nghiệp” sang “kiến tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp phát triển”. Tên gọi mới đồng thời phản ánh rõ hơn định hướng phát triển kinh tế tư nhân, khẳng định vai trò của DNNVV trong phát triển kinh tế - xã hội và phù hợp với xu hướng quốc tế.
Dự thảo Luật gồm 5 chương, 35 điều, bổ sung các nguyên tắc nhằm chuyển từ hỗ trợ dàn trải sang hỗ trợ có trọng tâm, trọng điểm, phù hợp với nhu cầu và quá trình phát triển của từng doanh nghiệp. Chính sách hỗ trợ được thiết kế có thời hạn, gắn với kết quả đầu ra và lộ trình nâng cấp doanh nghiệp: từ hộ kinh doanh chuyển đổi lên doanh nghiệp; từ doanh nghiệp siêu nhỏ lên doanh nghiệp nhỏ; từ doanh nghiệp nhỏ lên doanh nghiệp vừa và từ doanh nghiệp vừa phát triển thành doanh nghiệp lớn.
Theo hướng tiếp cận này, thước đo hiệu quả chính sách cũng được chuyển từ số lượng doanh nghiệp được hỗ trợ sang mức độ phát triển và khả năng hấp thụ của doanh nghiệp sau hỗ trợ.
Cùng với đó, phương thức quản lý chính sách được đổi mới từ quản lý quy trình, thủ tục sang quản lý bằng dữ liệu, kết quả và trách nhiệm giải trình. Dự thảo đẩy mạnh số hóa hoạt động hỗ trợ trên cơ sở khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu doanh nghiệp; ứng dụng công nghệ thông tin trong tiếp nhận, triển khai, theo dõi, giám sát và đánh giá hoạt động hỗ trợ.
Một điểm mới đáng chú ý là Nhà nước chuyển từ vai trò trực tiếp cung cấp hỗ trợ sang kiến tạo hệ sinh thái và dẫn dắt nguồn lực phát triển doanh nghiệp. Các chính sách được thiết kế lấy doanh nghiệp làm trung tâm, trao quyền chủ động cho doanh nghiệp lựa chọn nội dung và đơn vị hỗ trợ, hướng tới hỗ trợ đúng nhu cầu thay vì chỉ cung cấp những dịch vụ Nhà nước sẵn có.
Các phương thức như phiếu hỗ trợ doanh nghiệp, đặt hàng, giao nhiệm vụ được nghiên cứu áp dụng; ngân sách nhà nước giữ vai trò vốn dẫn dắt, chia sẻ rủi ro và huy động thêm nguồn lực xã hội cho phát triển doanh nghiệp.
Lấy doanh nghiệp làm trung tâm, hỗ trợ theo nhu cầu thực tế
Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn nhấn mạnh, việc chuyển từ “Luật Hỗ trợ” sang “Luật Phát triển” đòi hỏi nội dung của Luật phải tạo ra những đột phá thực chất. Mục tiêu cốt lõi là chuyển từ phương thức “hỗ trợ theo khả năng cung cấp của Nhà nước” sang “hỗ trợ theo nhu cầu thực tế của doanh nghiệp”, lấy doanh nghiệp làm trung tâm và đánh giá hiệu quả bằng kết quả đầu ra.
Theo đó, các chính sách cần tập trung tháo gỡ những điểm nghẽn về tài chính, tín dụng, đất đai và hạ tầng sản xuất; đổi mới phương thức hỗ trợ theo hướng thực chất, tránh cào bằng, hình thức; đồng thời xây dựng hệ sinh thái hỗ trợ toàn diện và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia.
Tại phiên họp, các đại biểu thống nhất về sự cần thiết ban hành Luật nhằm kịp thời thể chế hóa các chủ trương, đường lối của Đảng tại Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân và Nghị quyết số 198/2025/QH15 của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc biệt phát triển kinh tế tư nhân.
Đột phá trong tiếp cận nguồn lực và mở rộng đối tượng ưu tiên
Một trong những nội dung được quan tâm tại phiên họp là tiêu chí xác định DNNVV và mở rộng nhóm đối tượng ưu tiên.
Theo dự thảo Luật, Bộ Tài chính đề xuất bỏ tiêu chí “tổng nguồn vốn” do đây là chỉ số khó xác định chính xác trên thực tế, có thể phát sinh tranh cãi. Thay vào đó, dự thảo quy định tiêu chí số lao động bình quân năm bằng hoặc nhỏ hơn 300 người, kết hợp với một trong hai điều kiện về doanh thu hoặc vốn (doanh thu năm trước liền kề bằng hoặc nhỏ hơn 400 tỷ đồng, hoặc vốn bằng/nhỏ hơn 150 tỷ đồng)..
Dự thảo đồng thời mở rộng diện ưu tiên đối với doanh nghiệp do phụ nữ, người khuyết tật, người dân tộc thiểu số làm chủ; doanh nghiệp thực hành kinh doanh bền vững (ESG) và hộ kinh doanh chuyển đổi lên doanh nghiệp.
Theo Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn, các tiêu chí được thiết kế theo hướng thông thoáng hơn, đồng thời giao Chính phủ quy định chi tiết để bảo đảm tính linh hoạt. Việc kết hợp tiêu chí lao động với một trong hai tiêu chí về doanh thu hoặc vốn cũng tạo thuận lợi cho cơ quan quản lý trong nhận diện, phân loại doanh nghiệp trên nền tảng dữ liệu điện tử.
Hoàn thiện chính sách theo hướng thực chất, hiệu quả
Phát biểu kết luận phiên thảo luận, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Hồng ghi nhận và đánh giá cao sự chủ động, nghiêm túc của Chính phủ, Bộ Tài chính và các cơ quan thẩm tra trong quá trình chuẩn bị dự án Luật. Ủy ban Thường vụ Quốc hội thống nhất về sự cần thiết sửa đổi toàn diện Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017 và đổi tên thành Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Để tiếp tục hoàn thiện dự án Luật trước khi trình Quốc hội xem xét, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Hồng đề nghị tập trung vào các nhóm nhiệm vụ trọng tâm.
Trước hết, tiếp tục thể chế hóa toàn diện Nghị quyết số 68-NQ/TW và Nghị quyết số 198/2025/QH15 thể hiện rõ sự chuyển đổi từ tư duy “hỗ trợ” sang “kiến tạo phát triển”. Đồng thời, tiếp tục hoàn thiện tiêu chí xác định DNNVV, bảo đảm chính sách đúng đối tượng, tránh cào bằng hoặc trục lợi chính sách; nghiên cứu bổ sung tiêu chí giá trị gia tăng, tỷ lệ chi phí (R&D) và cơ chế “trưởng thành” của doanh nghiệp sau 2 - 3 năm.
Chính sách cũng cần bao quát toàn bộ vòng đời doanh nghiệp, từ thành lập, hoạt động đến phá sản, giải thể; đơn giản hóa tối đa thủ tục đối với hộ kinh doanh chuyển đổi.
Về nguồn vốn, cần tạo đột phá tiếp cận vốn gắn với an toàn hệ thống, khuyến khích cho vay theo dòng tiền, tài sản trí tuệ/số; liên thông dữ liệu thuế, hải quan, BHXH với ngân hàng.
Cùng với đó, đổi mới phương thức hỗ trợ theo cơ chế thị trường, áp dụng phiếu hỗ trợ, xóa bỏ cơ chế “xin - cho”, quy định KPI cho địa phương và đánh giá tác động định kỳ 3 năm/lần.
Đối với các quỹ hỗ trợ, quỹ bảo lãnh, cần đánh giá toàn diện nguyên nhân yếu kém, quyết định sáp nhập, giải thể hoặc thay thế bằng công cụ chia sẻ rủi ro hiệu quả.
Việc đẩy mạnh chuyển đổi số, liên thông dữ liệu cũng được xác định là yêu cầu quan trọng, trong đó cần thực hiện nghiêm nguyên tắc không yêu cầu doanh nghiệp cung cấp lại những thông tin mà cơ quan nhà nước đã có.
Đồng thời, cần tăng cường tham vấn rộng rãi, lấy ý kiến thực chất từ cộng đồng doanh nghiệp, VCCI, các ngân hàng và chuyên gia để đảm bảo luật đi vào cuộc sống ngay sau khi ban hành.
Việc xây dựng Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa theo hướng chuyển mạnh từ “hỗ trợ” sang “kiến tạo phát triển”, lấy doanh nghiệp làm trung tâm và khơi thông các nguồn lực đang được kỳ vọng sẽ tạo hành lang pháp lý thuận lợi hơn cho DNNVV phát triển. Qua đó, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, thúc đẩy khu vực kinh tế tư nhân và tạo thêm động lực cho phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn mới.
Ngọc Hoa