Nhằm ghi nhận những đóng góp của các cá nhân đối với sự nghiệp công tác dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo. Ngày 14/8/2026, Bộ trưởng Bộ Dân tộc và Tôn giáo ban hành Thông tư quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng số 06/2022/QH15, được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 06/2026/QH16 trong lĩnh vực công tác dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo. Theo đó, tại Điều 9 Nghị định quy định đối tượng, tiêu chuẩn xét tặng Kỷ niệm chương “Vì sự nghiệp công tác dân tộc và tôn giáo”.
Kỷ niệm chương là sự ghi nhận những đóng góp thiết thực
Kỷ niệm chương “Vì sự nghiệp công tác dân tộc và tôn giáo” (sau đây gọi là Kỷ niệm chương) là hình thức khen thưởng tặng cho cá nhân có công lao, thành tích đóng góp vào sự nghiệp xây dựng và phát triển của Bộ Dân tộc và Tôn giáo; ngành, lĩnh vực công tác dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo. Kỷ niệm chương chỉ tặng 01 lần cho mỗi cá nhân, không truy tặng. Kỷ niệm chương không xét tặng cho các cá nhân đã được tặng Kỷ niệm chương “Vì sự nghiệp phát triển các dân tộc”, Kỷ niệm chương “Vì sự nghiệp Quản lý nhà nước về Tín ngưỡng, Tôn giáo”.
Đối tượng, tiêu chuẩn xét tặng Kỷ niệm chương
1. Cá nhân trong các cơ quan, đơn vị có chức năng quản lý nhà nước về công tác dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, hoặc liên quan đến phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Dân tộc và Tôn giáo, gồm:
- Cán bộ, công chức, viên chức, người lao động công tác trong các cơ quan, đơn vị có chức năng quản lý nhà nước về công tác dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo;
- Cán bộ, công chức, viên chức, người lao động thuộc các bộ, ban, ngành, đoàn thể Trung ương, sở, ban, ngành cấp tỉnh có công tác liên quan trực tiếp đến công tác dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo;
- Cán bộ, công chức, viên chức, người lao động thuộc cơ quan, đơn vị cấp xã được giao thực hiện nhiệm vụ liên quan trực tiếp đến công tác dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo.
- Cá nhân được quy định tại điểm a khoản này phải có thời gian công tác từ đủ 15 năm trở lên đối với nam, từ đủ 13 năm trở lên đối với nữ, tính đến thời điểm xét tặng Kỷ niệm chương và hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên trong thời gian quy định là điều kiện để xét tặng Kỷ niệm chương.
Lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương; lãnh đạo các bộ, ban, ngành Trung ương; lãnh đạo tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có công lao trong lãnh đạo, chỉ đạo, góp phần vào sự nghiệp công tác dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo;
3. Cá nhân ngoài các cơ quan, đơn vị có chức năng quản lý nhà nước về công tác dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, hoặc liên quan đến phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Dân tộc và Tôn giáo, gồm:
- Người dân tộc thiểu số, chức sắc, chức việc của các tổ chức tôn giáo được Nhà nước phong tặng một trong các danh hiệu: Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng Lao động trong thời kỳ đổi mới, Chiến sĩ thi đua toàn quốc, Nhà giáo nhân dân, Nghệ sĩ nhân dân, Nghệ nhân nhân dân, Thầy thuốc nhân dân;
- Người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số được cơ quan có thẩm quyền công nhận; người có uy tín, tiêu biểu trong cộng đồng tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo có thành tích, đóng góp tiêu biểu cho sự nghiệp công tác dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo;
- Cá nhân có thành tích xuất sắc, đóng góp tiêu biểu nhân dịp đại hội đại biểu toàn quốc các dân tộc thiểu số Việt Nam, đại hội hoặc hội nghị cấp toàn đạo của tổ chức tôn giáo;
- Doanh nhân, nghệ sĩ, nghệ nhân có thành tích xuất sắc, có đóng góp thiết thực, hiệu quả vào phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, vùng đồng bào có tín ngưỡng, tôn giáo;
- Cá nhân là người nước ngoài, người Việt Nam ở nước ngoài có thành tích, đóng góp thiết thực, hiệu quả trong việc củng cố, tăng cường tình đoàn kết giữa các dân tộc, tôn giáo; có công lao giúp đỡ, ủng hộ về vật chất hoặc tinh thần cho sự nghiệp công tác dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam.
4. Các trường hợp đặc biệt khác do Bộ trưởng Dân tộc và Tôn giáo quyết định theo thẩm quyền.
Trường hợp được xét tặng trước khi nghỉ hưu
Đối với cá nhân thuộc các cơ quan, đơn vị có chức năng quản lý nhà nước về công tác dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo và cá nhân thuộc các đối tượng quy định khi nghỉ hưu, nếu còn thiếu từ đủ 01 tháng đến dưới 12 tháng thời gian công tác so với thời gian quy định để xét tặng Kỷ niệm chương thì được xem xét tặng Kỷ niệm chương trước khi nghỉ hưởng chế độ hưu trí.
Những trường hợp không được xét tặng
Không xét tặng Kỷ niệm chương đối với cá nhân đang trong thời gian thi hành kỷ luật hoặc đang bị xem xét xử lý kỷ luật theo quy định của pháp luật; đang bị điều tra, truy tố, xét xử hoặc đang trong thời gian cơ quan có thẩm quyền xác minh, kết luận về hành vi vi phạm pháp luật. Thời gian thi hành kỷ luật không được tính vào thời gian công tác để xét tặng Kỷ niệm chương.
Do đó, việc triển khai thực hiện quy định về xét tặng Kỷ niệm chương cần bảo đảm đúng trình tự, thủ tục, tiêu chuẩn và đối tượng; đồng thời đánh giá khách quan, chính xác quá trình công tác, thành tích và mức độ đóng góp của từng cá nhân. Qua đó, Kỷ niệm chương thực sự trở thành hình thức ghi nhận có ý nghĩa, góp phần khích lệ các cá nhân tiếp tục đóng góp cho sự nghiệp công tác dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới.
Ngọc Mai