Năm 18 tuổi, bà Thìn kết hôn với ông Toan, nói đúng ra cuộc hôn nhân này là do sự sắp đặt của cha mẹ nên trong một lần vợ chồng xích mích, ông Toan đã nói thẳng rằng: “Thực lòng tôi chẳng muốn lấy cô chút nào chỉ vì trước kia cha mẹ hai bên đã hứa tôi đành phải chấp nhận mà thôi”. Khi bà Thìn tìm hiểu và biết sự thật thì bà đã có thai 3 tháng. Bà đành bấm bụng sống cho qua ngày đoạn tháng mặc dù biết rằng cuộc tình này chẳng bền lâu.

Quả tình, ngay sau khi được cha mẹ cho ra ở riêng, ông Toan thường xuyên đánh đập, chửi mắng vợ. Mới sinh được 5 ngày bà đã phải làm tất cả mọi việc trong nhà, thậm chí có thời gian bà phải ăn cháo liên tục cả tuần lễ. Khi cậu con trai tên Hải được 3 tháng tuổi thì cũng là lúc do buồn rầu bà lâm bệnh nặng, bên cha mẹ đẻ sang đưa về chữa trị, ấy vậy mà ông Toan chẳng đoái hoài. Khi cu Hải được 11 tháng thì hai người làm đơn ra toà ly dị. Trước Toà, bà Thìn nói: Tôi sẽ nuôi con mà không nhận tiền trợ cấp với điều kiện từ nay về sau ông Toan không được nhìn đứa con này là con mình. Ông Toan đồng ý. Chỉ một thời gian sau, ông Toan đã ngang nhiên ăn ở như vợ chồng với người đàn bà khác. Nhưng hai người ở với nhau mười năm trời không có thêm con cái gì. Bà vợ hờ này cũng bỏ ông Toan đi biệt xứ, còn lại ông Toan vì buồn chán nên vùi đầu vào rượu, say xỉn suốt ngày, chẳng đoái hoài đến chuyện làm ăn nên kinh tế gia đình ngày một kiệt quệ. Miếng đất thổ cư cha mẹ để lại, ông Toan cứ cắt bán dần chỉ còn trọn lỏn 60 mét vuông nền nhà. Ngày cũng như đêm, ông Toan làm bạn với rượu đến độ mắc bệnh sơ gan.
Bà Thìn từ ngày ly dị, không đi bước nữa mà ở vậy nuôi con. Năm anh Hải 22 tuổi cưới vợ cũng là lúc bệnh tình ông Toan khá nặng. Anh Hải năn nỉ mẹ cho được đón bố về nhà chữa trị, nhưng bà Thìn còn ôm mối hận trong lòng nên dứt khoát không đồng ý. Từ đó, mẹ con bà Thìn sinh ra mâu thuẫn. Anh Hải không biết làm sao để thuyết phục mẹ đành nhờ đến Tổ hoà giải can thiệp.
Nắm được nội tình sự việc, Tổ hoà giải đã gặp gỡ hai mẹ con để khuyên nhủ. Bác Thư - tổ trưởng tổ hoà giải phân tích:
- Bà giận ông nhà ruồng bỏ mẹ con bà là có lý của bà nhưng giờ đây, lúc về già ông ấy sống cô độc, mang trong người bệnh tật mà không người thân bên cạnh chăm sóc. Âu cũng là cái giá mà ông ấy phải trả. Bà từ trước đến giờ vẫn ở vậy nuôi cháu khôn lớn, cả láng giềng đều nể phục. Giờ cũng nên tha thứ cho ông ấy một lần, dù gì cũng là nghĩa nặng tình sâu, một ngày vợ chồng một ngày nên nghĩa, huống hồ, ông bà còn có cháu Hải là giọt máu chung.
Anh Hải thêm vào câu chuyện:
- Nếu bố có mệnh hệ nào ra đi mà con chưa được báo hiếu lấy một ngày thì con cũng ân hận lắm. Mẹ cũng thường dạy con: Sống ở đời, mọi oán hận phải trút bỏ cho thanh thản lương tâm. Mẹ cho phép con đón bố về mẹ nhé.
Bà Thìn quát:
- Anh mới nứt mắt mà dám dạy tôi cơ à? Bố anh thì anh rước nhưng đừng làm phiền tới tôi.
Nghe bà Thìn nói vậy, cả tổ hoà giải đều thở phào nhẹ nhõm. Dẫu không phải đã hoàn toàn đồng ý nhưng nói vậy có nghĩa bà Thìn cũng không cản trở con đón bố về chăm sóc.
Ngay hôm ấy, vợ chồng anh Hải sang bên nhà ông Toan đưa ông về. Với bà Thìn, lúc giận thì nói vậy chứ suốt 6 tháng trời qua mẹ con bà hết sức lo thuốc thang, chữa trị đến tận ngày ông Toan nhắm mắt xuôi tay.
Xưa có câu: bát đũa còn có khi xô, những mâu thuẫn trong gia đình là không thể tránh khỏi, nhờ có tổ hoà giải đứng ra vận động, phân xử để mỗi người trong cuộc tự nhìn nhận lại cách cư xử của mình, sẽ không có kẻ thắng người thua mà là sự nhường nhịn nhau để tháo gỡ mâu thuẫn, đem lại thanh thản, bình yên trong lòng mỗi người.