“Chủ động thực thi; phát huy động lực; tăng trưởng bứt phá”
Thời gian: 23/03/2026 15:47

Đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn thành phố Hải Phòng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045

Trong những năm qua, thành phố đã lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện các mục tiêu giáo dục nghề nghiệp (GDNN) đạt nhiều kết quả. Hệ thống GDNN thành phố đã có nhiều chuyển biến tích cực về quy mô tuyển sinh, chất lượng đào tạo; tỷ lệ lao động qua đào tạo có việc làm phù hợp ngày một tăng. Kết quả của GDNN đã góp phần quan trọng hình thành đội ngũ lao động lành nghề, xây dựng giai cấp công nhân, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá thành phố. Tuy nhiên, GDNN thành phố vẫn còn nhiều tồn tại, hạn chế, là điểm nghẽn cho sự phát triển của GDNN thành phố, cụ thể: Tư duy, phương pháp quản lý chậm đổi mới, cơ chế chính sách đối với GDNN thiếu đồng bộ, quy mô, cơ cấu ngành nghề, chất lượng đào tạo (nhất là kỹ năng nghề, kỹ năng mềm, đạo đức nghề nghiệp) chưa đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động, năng lực quản lý nhà nước, quản trị cơ sở, năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý và nhà giáo còn hạn chế; cơ sở GDNN chất lượng cao còn khiêm tốn; đặc biệt trong thời kỳ hội nhập quốc tế sâu rộng, ứng dụng trí tuệ nhân tạo đang là xu thế thì việc ứng dụng khoa học công nghệ, thành tựu Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư chưa đáp ứng yêu cầu tình hình mới; thiếu sự phối hợp, tham gia của các lực lượng xã hội, doanh nghiệp.

Ngày 24/01/2019, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 45-NQ/TW về xây dựng và phát triển thành phố Hải Phòng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; Thành phố Hải Phòng đang có vị thế mới, đặc biệt các chỉ số phát triển ngày một tăng, là một trong những địa phương đứng đầu cả nước về thu hút nhà đầu tư có năng lực, có yêu cầu cao về chất lượng lao động... Vì vậy, việc đổi mới, nâng cao chất lượng GDNN là yêu cầu cấp thiết để thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ chính trị của thành phố đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

* Quan điểm và mục tiêu của Nghị quyết số 14-NQ/TU

Với quan điểm đổi mới và nâng cao chất lượng GDNN là chủ trương, giải pháp quan trọng, lâu dài, tạo đột phá trong phát triển nguồn nhân lực, nhất là nhân lực có tay nghề cao, tạo động lực đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa thành phố; góp phần thực hiện 03 trụ cột kinh tế chủ yếu của thành phố là công nghiệp công nghệ cao, cảng biển - logistics, du lịch - thương mại, thực hiện thắng lợi Nghị quyết số 45-NQ/TW, ngày 24/01/2019 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển thành phố Hải Phòng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. GDNN thành phố phải đổi mới và phát triển theo hướng hiện đại, đa dạng, mở, linh hoạt, liên thông; chú trọng quy mô, cơ cấu ngành nghề và chất lượng đào tạo; quan tâm đào tạo kỹ năng nghề cho người lao động. Quan tâm đầu tư, đẩy mạnh hợp tác quốc tế, ngành, nghề đào tạo đạt trình độ tương đương với khu vực và thế giới, thực hiện chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ thông tin mạnh mẽ trong quản lý, điều hành và tổ chức đào tạo.

* Các mục tiêu thực hiện Nghị quyết

Mục tiêu chung: Tiếp tục đổi mới, bảo đảm quy mô, cơ cấu ngành nghề, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về chất lượng và hiệu quả GDNN trên địa bàn thành phố, đào tạo nghề gắn với nhu cầu của thị trường lao động, việc làm và yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của thành phố, tạo bước đột phá về phát triển nguồn nhân lực, nhất là lao động nghề chất lượng cao, chủ động tham gia vào thị trường lao động quốc tế, tập trung đào tạo kỹ năng, ngoại ngữ cho người lao động đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế của thành phố.

* Mục tiêu cụ thể:

- Đến năm 2030, phấn đấu thu hút 50 - 55% học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở, trung học phổ thông tại thành phố Hải Phòng vào hệ thống GDNN; thu hút từ 2.200 - 2.500 học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở, trung học phổ thông các tỉnh, thành phố khác vào hệ thống GDNN thành phố Hải Phòng. Tuyển sinh đào tạo 12.000 học sinh, sinh viên trình độ trung cấp, cao đẳng, tỷ lệ nữ đạt trên 40% tổng chỉ tiêu tuyển sinh mới. Đào tạo lại, đào tạo thường xuyên cho khoảng 50% lực lượng lao động. Tỷ lệ lao động là người khuyết tật còn khả năng lao động được học nghề phù hợp đạt 40%. 100% nhà giáo đạt chuẩn; 90% cán bộ quản lý được đào tạo, bồi dưỡng nâng cao kỹ năng quản lý - quản trị hiện đại. 100% nhà giáo và cán bộ quản lý được đào tạo, bồi dưỡng bổ sung nâng cao năng lực số, phát triển học liệu số, kỹ năng, phương pháp sư phạm phù hợp để triển khai đào tạo trên môi trường số. Ít nhất 70% cơ sở GDNN và 100% chương trình đào tạo các ngành, nghề trọng điểm đạt tiêu chuẩn kiểm định chất lượng. - Khoảng 90% ngành, nghề đào tạo được xây dựng, cập nhật chuẩn đầu ra theo Khung trình độ quốc gia Việt Nam. Phấn đấu chuẩn đầu ra chương trình đào tạo của các trình độ được tích hợp năng lực số, có nội dung đào tạo phù hợp với phương thức chuyển đổi số; 100% trường cao đẳng, trường trung cấp có hạ tầng số, nền tảng số để kết nối, khai thác với nền tảng số GDNN thành phố và quốc gia. 100% cơ sở GDNN số hóa quá trình học tập, kết quả học tập, văn bằng GDNN của người học và kết nối, tích hợp dữ liệu lên môi trường số. Tỷ lệ kiểm tra chuyên ngành về GDNN được thực hiện thông qua môi trường số và hệ thống thông tin của cơ quan quản lý đạt 80%. - Có ít nhất 05 trường chất lượng cao, trong đó có 02 trường cao đẳng thuộc thành phố Hải Phòng; có khoảng 80 lượt nghề trọng điểm, trong đó có 02 - 03 nghề trọng điểm có năng lực cạnh tranh vượt trội trong các nước ASEAN-4; có 03-05 ngành, nghề tiếp cận trình độ các nước phát triển trong nhóm G20.

- Đến năm 2045: GDNN thành phố đáp ứng nhu cầu nhân lực có kỹ năng nghề cao, trở thành địa phương phát triển hàng đầu về GDNN trong nước, trong khu vực ASEAN và bắt kịp trình độ tiên tiến của thế giới, có năng lực cạnh tranh vượt trội ở một số lĩnh vực, ngành, nghề đào tạo.

* Các nhiệm vụ, giải pháp thực hiện Nghị quyết

- Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy đảng, chính quyền các cấp, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị; phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội thành phố. Tiếp tục chỉ đạo quán triệt, thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 04/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương, Kết luận số 51-KL/TW, ngày 30/5/1019 của Ban Bí thư, Chỉ thị số 21-CT/TW, ngày 04/5/2023 của Ban Bí thư và các văn bản chỉ đạo của Trung ương, của Thành ủy để thực hiện đổi mới và nâng cao chất lượng GDNN. Đẩy mạnh đổi mới công tác truyền thông về chủ trương, chính sách của Trung ương và thành phố về GDNN tới cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên, học sinh, sinh viên, tạo sự đồng thuận, tin tưởng trong Nhân dân thành phố, nâng cao hình ảnh, thương hiệu và giá trị xã hội của GDNN. Nâng cao trách nhiệm của cán bộ lãnh đạo, quản lý, nhất là trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy về đổi mới và nâng cao chất lượng GDNN. Tăng cường công tác giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, báo chí và Nhân dân đối với việc triển khai nhiệm vụ GDNN.

- Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về GDNN. Tiếp tục rà soát, sắp xếp các cơ sở GDNN công lập thuộc thành phố quản lý theo tinh thần Nghị quyết số 18-NQ/TW Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII; Tổ chức thực hiện Phương án phát triển mạng lưới cơ sở GDNN theo Quy hoạch thành phố thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050, bảo đảm về quy mô, cơ cấu và hợp lý về ngành, nghề, trình độ đào tạo; tru tiên phát triển các ngành chủ lực có vai trò dẫn dắt tăng trưởng kinh tế của thành phố, gắn kết với nhu cầu sử dụng lao động của các khu, cụm công nghiệp, các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố; phát triển GDNN ở nông thôn, hải đảo để chuyển dịch cơ cấu lao động, đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới, Khuyến khích phát triển cơ sở GDNN tư thục, có vốn đầu tư nước ngoài, cơ sở GDNN trong doanh nghiệp.

Thực hiện đổi mới, có hiệu quả công tác thông tin, tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về GDNN. Biểu dương, khen thưởng tập thể, cá nhân tiêu biểu có cống hiến, đóng góp, ảnh hưởng tích cực đối với sự phát triển của GDNN thành phố. Triển khai hiệu quả Khung trình độ quốc gia Việt Nam đối với các trình độ GDNN và khung trình độ kỹ năng nghề quốc gia bảo đảm gắn với thị trường lao động, chuẩn hóa, phát triển kỹ năng nghề cho người lao động, chú trọng hỗ trợ đào tạo nghề cho thanh niên hoàn thành nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ công an, thanh niên xung phong, người khuyết tật và các đối tượng yếu thế. Nghiên cứu, xem xét việc thành lập Hội đồng phát triển GDNN thành phố; phát triển hệ thống bảo đảm chất lượng GDNN. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, đánh giá phân tầng, xếp hạng các cơ sở GDNN. Có giải pháp cụ thể thực hiện công tác thống kê, thông tin và xây dựng cơ sở dữ liệu về GDNN của thành phố gắn với thực hiện chuyển đổi số. Nghiên cứu, xây dựng một số chính sách đặc thù tạo chuyển biến đột phá trong GDNN. Hỗ trợ người học nghề đối với một số nghề được khuyến khích, ưu tiên hỗ trợ đào tạo, đào tạo lại, chú trọng đào tạo thường xuyên, đào tạo kỹ năng nghề, ngoại ngữ cho người lao động, tăng cường tuyển sinh, đào tạo các nghề thị trường lao động có nhu cầu. Hỗ trợ nhà giáo GDNN, kỹ sư, chuyên gia làm việc trong các doanh nghiệp tham gia đào tạo, bồi dưỡng nhằm chuẩn hóa kỹ năng nghề, nghiệp vụ sư phạm. Quan tâm đầu tư hỗ trợ xây dựng cơ sở vật chất, thiết bị đào tạo nhất là bảo đảm cơ sở vật chất trong đào tạo kỹ năng thực hành; ưu tiên tập trung đầu tư đối với các trường chất lượng cao, bảo đảm các tiêu chí theo quy định.

- Phát triển, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo, nghệ nhân, chuyên gia, người dạy nghề và cán bộ quản lý GDNN của thành phố. Từng bước chuẩn hóa, phát triển, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo, nghệ nhân, chuyên gia, người dạy nghề Quan tâm xây dựng đội ngũ nhà giáo GDNN bảo đảm về chất lượng, số lượng và cơ cấu; đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao năng lực đội ngũ nhà giáo, nghệ nhân, chuyên gia, người dạy nghề (chú trọng nhà giáo dạy nghề trọng điểm) theo hướng hiện đại, chất lượng cao, tiếp cận chuẩn của các nước tiên tiến. Thực hiện phát triển năng lực số cho đội ngũ nhà giáo GDNN. Nghiên cứu xây dựng chính sách thu hút, tuyển dụng, sử dụng, đãi ngộ, tôn vinh đối với nhà giáo, nghệ nhân, chuyên gia, người dạy nghề trong GDNN. Xây dựng mạng lưới kết nối đội ngũ nhà giáo, nghệ nhân, chuyên gia và người dạy nghề trong GDNN. Tăng cường hợp tác, liên kết với các cơ sở giáo dục đại học về trao đổi giảng viên, liên kết sử dụng cơ sở vật chất, thiết bị đào tạo. Nghiên cứu xây dựng chính sách thu hút, tuyển dụng, bồi dưỡng nâng cao năng lực cán bộ quản lý nhà nước về GDNN và cán bộ quản lý cơ sở GDNN. Phát triển nhanh và nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ quản lý tại cơ sở GDNN làm công tác kiểm định, bảo đảm chất lượng, đội ngũ thanh tra, cộng tác viên thanh tra chuyên ngành.

- Đẩy nhanh chuyển đổi số, chuẩn hóa các điều kiện bảo đảm chất lượng trong hoạt động GDNN. Đẩy mạnh thực hiện chuyển đổi số trong GDNN được coi là nhiệm vụ trọng tâm để nâng cao chất lượng dạy và học trong đào tạo nghề, tăng cường hiệu quả công tác quản lý, mở rộng phương thức đào tạo, là tiêu chí để đánh giá chất lượng của đơn vị GDNN; huy động, gắn kết với doanh nghiệp và các lực lượng trong xã hội để phát triển GDNN; tạo điều kiện học tập suốt đời cho người dân, tạo đột phá về chất lượng và quy mô đào tạo. Xây dựng, phát triển đồng bộ hạ tầng số phục vụ cho quản lý GDNN. Tham gia phát triển kho học liệu số ở tất cả các trình độ, ngành nghề đào tạo, dùng chung toàn ngành theo chỉ đạo của các cơ quan Trung ương, bảo đảm theo yêu cầu, mục tiêu về chuyển đổi số của thành phố. Rà soát, xem xét các cơ chế, chính sách các cơ sở GDNN được thụ hưởng theo quy định, nhằm phát huy hiệu quả tối đa các nguồn lực cho GDNN thành phố. Tập trung đầu tư hiện đại hóa cơ sở vật chất, thiết bị đào tạo của cơ sở GDNN, ưu tiên đầu tư đồng bộ cho các trường chất lượng cao, ngành, nghề trọng điểm, nghề “xanh”; ngành, nghề đào tạo mới, kỹ năng mới, ngành, nghề đào tạo đặc thù phù hợp với công nghệ sản xuất của doanh nghiệp. Tăng cường gắn kết với doanh nghiệp để khai thác, sử dụng thiết bị đào tạo tại doanh nghiệp. Phát triển mô hình “nhà trường thông minh, hiện đại”, “nhà trường xanh".

- Đổi mới chương trình, phương thức đào tạo; ứng dụng các tiến bộ khoa học, cải tiến kỹ thuật vào giảng dạy và thực tiễn sản xuất. Rà soát, cập nhật, đổi mới nội dung chương trình đào tạo theo hướng mở, linh hoạt, liên thông, đáp ứng chuẩn đầu ra, gắn với thị trường lao động, phù hợp với đối tượng người học, rà soát, xây dựng chương trình đào tạo ngành, nghề mới, ứng dụng công nghệ mới, ngành nghề hỗ trợ phát triển các ngành, lĩnh vực công nghệ mới. Khuyến khích áp dụng, nhân rộng chương trình, giáo trình đào tạo chất lượng cao trong các cơ sở GDNN trên địa bàn thành phố. Đổi mới phương pháp đào tạo, đào tạo nhân lực chất lượng cao theo hướng ứng dụng thực hành, thực tập, bảo đảm đáp ứng nhu cầu nhân lực có năng suất lao động cao, có đạo đức nghề nghiệp, kỷ luật cao, kỹ năng nghề tiên tiến cung cấp cho thị trường lao động. Đa dạng hóa phương thức tổ chức đào tạo với ứng dụng mạnh mẽ của công nghệ thông tin. Đổi mới công tác đánh giá, công nhận kỹ năng nghề, trình độ của người học, người lao động Thực hiện liên thông giữữa các trình độ trong GDNN theo quy định, chú trọng đẩy mạnh đánh giá đào tạo từ đó cải thiện chất lượng đào tạo nghề. Thực hiện các giải pháp cụ thể, hiệu quả công tác giáo dục hướng nghiệp để phân luồng học sinh, thu hút người học bảo đảm chỉ tiêu đào tạo nghề của các cơ sở GDNN. Thực hiện đào tạo nghề gắn với giáo dục nâng cao nhận thức về An toàn vệ sinh lao động, góp phần đào tạo thế hệ công nhân chế độ xã hội chủ nghĩa mới, hiện đại, lớn mạnh phục vụ sự nghiệp xây dựng, phát triển thành phố và đất nước.

- Đẩy mạnh gắn kết chặt chẽ GDNN với doanh nghiệp và thị trường lao động. Đổi mới triển khai cơ chế hợp tác giữa Nhà nước, Nhà trường, Doanh nghiệp trên cơ sở hài hòa lợi ích và trách nhiệm xã hội. Định kỳ tổ chức đối thoại “3 nhà”, có giải pháp kịp thời phù hợp với điều kiện thực tế và xu hướng. Đẩy mạnh hiệu quả công tác dự báo nhu cầu nhân lực kỹ thuật và nhu cầu đào tạo theo cơ cấu ngành, nghề và trình độ đào tạo; có giải pháp khuyến khích, thu hút nhiều doanh nghiệp tham gia vào quá trình đào tạo nghề nghiệp. Phối hợp, gắn kết chặt chẽ giữa các cơ sở GDNN và các Trung tâm dịch vụ việc làm, Sàn giao dịch việc làm, Trung tâm khởi nghiệp đổi mới sáng tạo; hỗ trợ người học tìm việc làm sau tốt nghiệp, có chương trình cụ thể thực hiện gắn kết đào tạo với việc đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.

- Tăng cường nguồn lực và hiệu quả đầu tư nguồn lực cho GDNN. Tăng cường nguồn lực, ưu tiên phân bổ ngân sách cho GDNN trong tổng chi ngân sách nhà nước của thành phố cho giáo dục và đào tạo tương xứng với vị trí, vai trò của GDNN. Thực hiện đặt hàng, giao nhiệm vụ GDNN đối với các cơ sở GDNN, cơ sở hoạt động GDNN, bảo đảm chính sách bình đẳng đối với cơ sở GDNN công lập và tư thục, khuyến khích khu vực tư nhân tham gia GDNN. Đa dạng hoá nguồn lực đầu tư cho GDNN; đẩy mạnh tự chủ đối với cơ sở GDNN công lập; tăng cường hiệu quả xã hội hoá GDNN. Thực hiện hiệu quả chính sách ưu đãi đối với các cơ sở tư thục khi tham gia tổ chức đào tạo một số ngành, nghề ưu tiên phục vụ phát triển kinh tế - xã hội thành phố.

- Chủ động và nâng cao hiệu quả hội nhập quốc tế về GDNN, khuyến khích các cơ sở GDNN hợp tác với các trường đào tạo nghề, các tổ chức quốc tế của các nước phát triển về chương trình đào tạo, trao đổi giáo viên, chuyên gia đào tạo, chuyển giao công nghệ, phương pháp giảng dạy, liên kết đào tạo những ngành nghề đạt tiêu chuẩn khu vực và quốc tế ... Thúc đẩy sự hỗ trợ, tài trợ của các nước phát triển, các tổ chức quốc tế đầu tư cho GDNN; ưu tiên dự án nước ngoài đầu tư phát triển GDNN, đặc biệt là dự án hỗ trợ kỹ thuật, phát triển chương trình, học liệu, đào tạo bồi dưỡng nhà giáo, cán bộ quản lý; các dự án mở các cơ sở đào tạo, mở các mã ngành, nghề mới liên quan đến lĩnh vực có hàm lượng khoa học - công nghệ cao, công nghệ ưu tiên, trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi số … của thành phố. Hợp tác, liên kết với các tỉnh, thành phố, các trường đại học, các viện nghiên cứu, trung tâm khoa học, trung tâm đào tạo trong và ngoài nước để đào tạo, bồi dưỡng nguồn lao động có kỹ năng nghề cho thành phố.

 

Nghị quyết số 06-NQ/TU ngày 19/01/2026 của Thành ủy Hải Phòng

về sửa đổi, bổ sung Nghị quyết số 14-NQ/TU

 

Sau khi ban hành, triển khai thực hiện, Nghị quyết số 14-NQ/TU ngày 13/5/2024 của Ban Thường vụ Thành ủy về đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn thành phố Hải Phòng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã được các cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện nghiêm túc, đạt được những kết quả bước đầu quan trọng, tạo sự chuyển biến tích cực trong công tác phát triển giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn thành phố. Tuy nhiên, trước bối cảnh phát triển mới của thành phố sau khi sáp nhập địa giới hành chính theo Nghị quyết của Quốc hội, sự thay đổi, hoàn thiện của hệ thống pháp luật Trung ương và các chỉ đạo mới của Đảng, Nhà nước về phát triển giáo dục và đào tạo, việc sửa đổi, bổ sung một số nội dung của Nghị quyết số 14- NQ/TU là yêu cầu khách quan, cần thiết nhằm đảm bảo sự thống nhất, đồng bộ trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo của Thành ủy, đáp ứng yêu cầu thực tiễn, phát huy hiệu quả các nguồn lực để hoàn thành thắng lợi các mục tiêu đã đề ra. Nghị quyết 06-NQ/TU có một số điểm mới sau đây:

* Nghị quyết số 06-NQ/TU ngày 19/01/2026 của Thành ủy Hải Phòng được ban hành trên cơ sở kế thừa và phát huy các quan điểm, chỉ đạo tại Nghị quyết số 14-NQ/TU, ngày 13/5/2024 của Ban Thường vụ Thành ủy về đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn thành phố Hải Phòng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, đồng thời sửa đổi, bổ sung 02 nội dung:

  • Việc sửa đổi, bổ sung các mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp về đổi mới và nâng cao chất lượng GDNN phải bám sát các chủ trương mới của Trung ương, tạo đột phá về phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, có kỹ năng nghề đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa thành phố và hội nhập quốc tế theo tinh thần Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Thành phố Hải Phòng lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030, góp phần đưa thành phố Hải Phòng trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo hàng đầu cả nước, giữ vai trò nòng cốt trong phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho vùng Đồng bằng Sông Hồng; Trung tâm quốc tế về đào tạo, nghiên cứu, ứng dụng và phát triển khoa học - công nghệ biển.
  • Đổi mới và nâng cao chất lượng GDNN là chủ trương, giải pháp quan trọng, lâu dài, tạo đột phá trong phát triển nguồn nhân lực, nhất là nhân lực có tay nghề cao gắn với các ngành mũi nhọn như: công nghiệp và nông nghiệp công nghệ cao, khoa học công nghệ, kinh tế tuần hoàn, dịch vụ - logistics, kinh tế biển, y tế, giáo dục, du lịch…, tạo động lực đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa thành phố; góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Thành phố Hải Phòng lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030.

* Mục tiêu cụ thể đến năm 2030:  Giữ nguyên 06/10 mục tiêu cụ thể theo Nghị quyết số 14-NQ/TU, ngày 13/5/2024 của Ban Thường vụ Thành ủy; đồng thời sửa đổi, bổ sung 05 mục tiêu cụ thể về nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn thành phố Hải Phòng (mới) đáp ứng yêu cầu thực hiện Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị, Chương trình hành động số 02-CTr/TU ngày 20/10/2025 của Ban Thường vụ Thành ủy, Nghị quyết số 09- NQ/ĐH ngày 27/9/2025 của Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 -2030, Chương trình hành động số 05-CTr/TU ngày 06/11/2025 của Ban chấp hành Đảng bộ thành phố thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 -2030, Kế hoạch hành động số 12-KH/TU ngày 26/8/2025 của Ban Thường vụ Thành ủy thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, cụ thể:

“- Tuyển sinh đào tạo 16.000 học sinh, sinh viên trình độ trung cấp, cao đẳng; tỷ lệ nữ đạt trên 40% tổng chỉ tiêu tuyển sinh mới”.

  • 100% nhà giáo đạt chuẩn; 100% cán bộ quản lý được đào tạo, bồi dưỡng nâng cao kỹ năng quản lý - quản trị hiện đại. 100% nhà giáo và cán bộ quản lý được đào tạo, bồi dưỡng bổ sung nâng cao năng lực số, phát triển học liệu số, kỹ năng, phương pháp sư phạm phù hợp để triển khai đào tạo trên môi trường số.

- Có ít nhất 06 trường chất lượng cao, trong đó có 03 trường cao đẳng thuộc thành phố Hải Phòng; có khoảng 80 lượt nghề trọng điểm, trong đó có 04 - 06 nghề trọng điểm có năng lực cạnh tranh vượt trội trong các nước ASEAN-4; có 03 - 05 ngành, nghề tiếp cận trình độ các nước phát triển trong nhóm G20.

- Tối thiểu 85% cơ sở giáo dục nghề nghiệp đạt chuẩn quốc gia và 100% chương trình đào tạo các ngành, nghề trọng điểm đạt tiêu chuẩn kiểm định chất lượng; 100% trường cao đẳng trên địa bàn có ít nhất 01 chương trình hợp tác, trao đổi hoặc chuyển giao công nghệ với đối tác quốc tế, ưu tiên các lĩnh vực mũi nhọn; Tỷ lệ người học các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật và công nghệ đạt ít nhất 50%.

- Tối thiểu 85% cơ sở giáo dục nghề nghiệp có tổ chức câu lạc bộ khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo hoạt động thường xuyên”.

* Nhiệm vụ và giải pháp

  • Trên cơ sở yêu cầu thực tiễn và định hướng phát triển giáo dục nghề nghiệp trong giai đoạn mới, một số nội dung tại Mục III của Nghị quyết số 14-NQ/TU ngày 13/5/2024 của Ban Thường vụ Thành ủy được rà soát, điều chỉnh, bổ sung theo hướng đồng bộ, sát thực tiễn và mang tính đột phá cao hơn.
  • Trước hết, về công tác lãnh đạo, chỉ đạo, thành phố tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu tăng cường vai trò lãnh đạo của các cấp ủy đảng, chính quyền, đồng thời phát huy sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, trong đó Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội giữ vai trò quan trọng trong tuyên truyền, vận động và giám sát việc triển khai thực hiện. Đáng chú ý, nội dung này được bổ sung theo hướng gắn chặt với việc tiếp tục quán triệt, triển khai hiệu quả các chủ trương lớn của Trung ương, tiêu biểu như Kết luận số 91-KL/TW ngày 12/8/2024 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW, cùng với Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, qua đó tạo nền tảng chính trị vững chắc cho việc đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn thành phố.
  • Đối với nội dung nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về giáo dục nghề nghiệp, các giải pháp được điều chỉnh theo hướng toàn diện hơn, tập trung vào việc tiếp tục rà soát, sắp xếp hệ thống cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập theo tinh thần tinh gọn, hiệu quả; đồng thời từng bước cải cách mô hình đào tạo theo hướng mở, linh hoạt, trong đó đáng chú ý là việc nghiên cứu bổ sung cấp trung học nghề tương đương với trình độ trung học phổ thông nhằm tạo thêm lựa chọn cho người học. Cùng với đó, việc tổ chức thực hiện quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp giai đoạn 2021–2030, tầm nhìn đến năm 2050 được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, bảo đảm phát triển cân đối về quy mô, cơ cấu ngành nghề và trình độ đào tạo, gắn chặt với nhu cầu sử dụng lao động của các khu công nghiệp, doanh nghiệp và các ngành kinh tế mũi nhọn của thành phố. Thành phố cũng chú trọng mở rộng giáo dục nghề nghiệp tại khu vực nông thôn, hải đảo nhằm thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động, đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới, đồng thời khuyến khích phát triển mạnh mẽ khu vực giáo dục nghề nghiệp ngoài công lập và có vốn đầu tư nước ngoài.
  • Song song với đó, hệ thống chính sách đối với giáo dục nghề nghiệp tiếp tục được rà soát, điều chỉnh theo hướng tạo động lực phát triển mới, trong đó tập trung vào việc bổ sung danh mục các ngành, nghề ưu tiên đào tạo, tăng cường hỗ trợ đào tạo lại, đào tạo thường xuyên, đặc biệt là đào tạo kỹ năng nghề và ngoại ngữ cho người lao động nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường lao động. Việc huy động đội ngũ kỹ sư, chuyên gia từ doanh nghiệp tham gia giảng dạy, bồi dưỡng cũng được đẩy mạnh nhằm chuẩn hóa kỹ năng nghề và nâng cao tính thực tiễn trong đào tạo. Bên cạnh đó, thành phố ưu tiên đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị đào tạo, nhất là các điều kiện phục vụ thực hành, thực nghiệm, đồng thời tập trung nguồn lực phát triển các cơ sở giáo dục nghề nghiệp chất lượng cao theo tiêu chuẩn quy định.

- Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, nội dung đẩy nhanh chuyển đổi số và chuẩn hóa các điều kiện bảo đảm chất lượng trong hoạt động giáo dục nghề nghiệp cũng được bổ sung theo hướng cụ thể, rõ ràng hơn. Theo đó, thành phố định hướng xây dựng và phát triển đồng bộ hạ tầng số phục vụ quản lý, điều hành giáo dục nghề nghiệp; từng bước hình thành mô hình trường nghề thông minh với hệ thống phòng học, phòng thí nghiệm, xưởng thực hành ảo và thiết bị thực tập số hiện đại. Đồng thời, các cơ sở giáo dục nghề nghiệp được khuyến khích tổ chức thường xuyên các hoạt động khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo, góp phần hình thành tư duy sáng tạo và năng lực thích ứng cho người học. Việc tham gia xây dựng và khai thác kho học liệu số dùng chung toàn ngành cũng được chú trọng, bảo đảm phù hợp với định hướng chuyển đổi số quốc gia và mục tiêu phát triển của thành phố.

            - Về nguồn lực đầu tư, các giải pháp được điều chỉnh theo hướng đa dạng hóa nguồn lực, tăng cường xã hội hóa và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Thành phố chủ trương thực hiện tự chủ toàn diện đối với các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, trao quyền tự chủ đầy đủ gắn với trách nhiệm giải trình, không phụ thuộc hoàn toàn vào mức độ tự chủ tài chính. Đồng thời, các chính sách ưu đãi đối với khu vực tư thục tiếp tục được hoàn thiện nhằm khuyến khích tham gia đào tạo các ngành, nghề ưu tiên phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, qua đó tạo sự lan tỏa và huy động tối đa nguồn lực xã hội cho giáo dục nghề nghiệp.

Có thể thấy, việc điều chỉnh, bổ sung các nội dung nêu trên, cùng với việc ban hành Nghị quyết số 06-NQ/TU năm 2026, đã thể hiện rõ quyết tâm chính trị của Thành ủy Hải Phòng trong việc thúc đẩy chuyển đổi căn bản, toàn diện giáo dục nghề nghiệp. Trọng tâm của quá trình này là nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, gắn đào tạo với nhu cầu thực tiễn của nền kinh tế công nghiệp – dịch vụ hiện đại, qua đó từng bước đưa Hải Phòng trở thành trung tâm giáo dục nghề nghiệp của vùng và cả nước vào năm 2030, với tầm nhìn đến năm 2045.

 

Quang Hưng

 

TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ VỀ PHỔ BIẾN GIÁO DỤC PHÁP LUẬT

Cơ quan chủ quản: UBND thành phố Hải Phòng

Cơ quan quản lý: Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng

Trưởng Ban biên tập: Ngô Quang Giáp, Ủy viên Thành ủy, Giám đốc Sở Tư pháp

Thống kê truy cập: 0

Liên hệ

 Địa chỉ: Tòa nhà E, Trung tâm Chính trị - Hành chính, Khu đô thị Bắc sông Cấm, phường Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng

 Điện thoại: 0225.3846314

 Fax: 0225.3640091

 Email: sotp@haiphong.gov.vn